Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan nghiên cứu Trong thời gian qua, các chủ đề nghiên cứu về lao động nhập cư trong và ngoài nước có nhiều thay đổi. Trước đây khi xảy ra làn sóng di chuyển lao động, các nghiên cứu chủ yếu tập trung mô tả xu hướng di chuyển lao động, đặc điểm của người di cư, lý giải nguyên nhân di chuyển lao động để từ đó đưa ra những dự báo về xu hướng di chuyển lao động, đồng thời chỉ ra những tác động tích cực và tác động tiêu cực đến nơi đi và nơi đến.
Trong những năm gần đây khi di chuyển lao động được xem là xu hướng tất yếu trong quá trình đô thị hóa, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, mất ổn định kinh tế hay bất ổn chính trị ở một số nước, các nghiên cứu vẫn tiếp tục được thực hiện nhưng tập trung vào mô tả, phân tích và đo lường cụ thể hơn về các tác động từ di chuyển lao động, cuộc sống của người di cư và gia đình, và đề xuất các chính sách quản lý di chuyển lao động. Tổng quan nghiên cứu tập trung vào lược khảo các nghiên cứu liên quan đến cuộc sống của lao động nhập cư để làm rõ định hướng nghiên cứu cụ thể của đề tài và cơ sở xây dựng thang đo nhân tố. Các yếu tố tác động đến quyết định di cư Lý thuyết về di chuyển lao động được phân chia thành ba cấp độ phân tích bao gồm vĩ mô, trung mô (gọi chung là vĩ mô) và vi mô, theo đó các nguyên nhân di chuyển lao động cũng được xem xét theo các cấp độ này (Faist, 2000, trích từ Trần Thị Hồng Nhung, 2015, tr. Nghiên cứu ở cấp độ vi mô xem xét các yếu tố cá nhân hay hộ gia đình được gọi là quyết định di cư, thường sử dụng lý thuyết di cư tân cổ điển, lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết vốn con người và lý thuyết chiến lược sinh kế.
Nghiên cứu “Những con đường về thành phố: Di dân đến Tp.HCM từ một vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” của Vũ Thị Hồng và cộng sự mặc dù thực hiện năm 2003 nhưng là một trong những nghiên cứu khái quát nhất và đầy đủ nhất về quá trình di chuyển lao động. Tuy nhiên, các kết luận trong nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát vào năm 1998, khi đó người xuất cư từ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) vào Tp.HCM chủ yếu là người Long An và nguyên nhân chính là đô thị hóa, còn gần đây người xuất cư chủ yếu lại là người Tiền Giang. Có thể thấy, đặc điểm di chuyển lao động có nhiều thay đổi, nhưng từ đó đến nay dường như chưa có một công trình nghiên cứu tiếp theo nào phản ánh một cách đầy đủ nhất về quá trình di chuyển lao động đến Tp. Một kết luận khá quan trọng trong nghiên cứu này chính là xác suất xuất cư của người thất nghiệp, xác suất quay trở về của người có trình độ học vấn và có nhà ở, 5 và xác suất nhập cư trở lại của người có mức sống thấp là cao hơn các trường hợp khác.
Liệu rằng xu hướng này có đúng với trường hợp Tp.HCM cũng là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu. Các nghiên cứu ở cấp vi mô thường tập trung vào nhân tố quan trọng như đặc điểm nhân khẩu học, khoảng cách di chuyển, chiến lược sinh kế, ứng phó với rủi ro,… Các nghiên cứu tiếp cận theo mô hình lực hút – lực đẩy ứng dụng trong Xã hội học đo lường tác động của đặc điểm nhân khẩu học đến quyết định di cư. Kết quả nghiên cứu cho thấy người di cư có khuynh hướng ngày càng trẻ hóa (Trần Thị Hồng Nhung, 2015; Nguyen Thu Phuong et al, 2008, Bùi Thái Quyên, 2016). Xét riêng người nữ di cư, khuynh hướng di cư chủ yếu là những phụ nữ ở thành thị, theo hình thức di cư dài hạn nhưng nếu độ tuổi càng trẻ thì chủ yếu là di cư tạm thời, trình độ học vấn tiểu học hay đã được đào tạo nghề cơ bản, và đã có gia đình (Bùi Thái Quyên, 2016).
Trong khi đó, nghiên cứu của Dinh Vu Trang Ngan và Jonathan Pincus (2011) có kết luận rằng người nhập cư lúc mới đến ở Tp.HCM hay Hà Nội thường là các đối tượng dễ bị bỏ qua nhưng lại là đối tượng gặp rất nhiều khó khăn, có mức sống thấp hơn so với người địa phương hay người nhập cư có thời gian sinh sống lâu hơn. Các kết quả này cho thấy người di cư có nhiều đặc điểm khác biệt thay đổi theo thời gian và độ dài thời gian sinh sống ở nơi đến, do đó đặc điểm người di cư luôn được đề cập trong tất cả các hướng tiếp cận khác nhau. Các nghiên cứu tiếp cận theo lý thuyết hệ thống xã hội và tương tác xã hội trong Xã hội học đo lường tác động của khoảng cách di chuyển đến quyết định di cư bằng yếu tố mạng lưới xã hội (Đặng Nguyên Anh, 1998b; Nguyen Van, 2015). Các kết quả nghiên cứu trong những năm trước đây khẳng định rằng mạng lưới xã hội giữa người di cư và những người ở nơi đến có tác động tích cực đến quyết định di cư, bởi vì mạng lưới xã hội góp phần làm giảm bớt chi phí tìm kiếm việc làm, giảm bớt rủi ro trên thị trường lao động, bảo lãnh hợp pháp người di cư, chia sẻ thông tin và hỗ trợ chỗ ở, chia sẻ kinh nghiệm thúc đẩy quá trình hòa nhập của người di cư được tốt hơn.
Đặc biệt, nghiên cứu của Nguyen Van (2015) còn đề cập đến tác động tích cực của mạng lưới xã hội ở nơi đến giúp người phụ nữ di cư giữ gìn các chuẩn mực xã hội và duy trì trách nhiệm với gia đình ở nơi đi. Các kết quả nghiên cứu thuộc Xã hội học này khẳng định tầm quan trọng của yếu tố mạng lưới xã hội của người nhập cư ở nơi đến, và mạng lưới xã hội cũng luôn được đề cập trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Các nghiên cứu tiếp cận theo lý thuyết vốn xã hội trong Kinh tế học đo lường tác động của khoảng cách di chuyển đến quyết định di cư bằng yếu tố vốn xã hội trong đó bao gồm mạng lưới xã hội, chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng (Trần Thị Hồng Nhung, 2015). Các kết 6 quả nghiên cứu cho thấy vốn xã hội ở nơi đi có tác động đồng biến đến di chuyển lao động, kết quả này là phù hợp với với nghiên cứu của Putman (1993), Portes (1998) và Kwon (2000) nhưng trái với lý thuyết vốn xã hội.
Trong đó, thang đo vốn xã hội là nhóm và mạng lưới xã hội, nguồn thông tin và liên lạc là có ý nghĩa thống kê và sự gắn kết xã hội là không có ý nghĩa thống kê, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) nhưng không phù hợp với nghiên cứu của Kan (2006), David và cộng sự (2010), Zhao và Yao (2013). (Trần Thị Hồng Nhung, 2015, tr. Khác biệt trong các kết quả nghiên cứu là do sự khác biệt thang đo vốn xã hội và giả thuyết trong mỗi nghiên cứu, trong đó nghiên cứu của Trần Thị Hồng Nhung (2015) chỉ mới tập trung vào một số thang đo vốn xã hội và sử dụng một phần giả thuyết về vốn xã hội. Nghiên cứu tiếp cận theo lý thuyết mới về tình trạng thiếu thốn trong cuộc sống và chiến lược sinh kế của Stark (1985) và lý thuyết vốn con người của Becker (1975), vốn xã hội của Bourdieu (1986) hay Coleman (1988) còn khá ít, hiện chỉ có nghiên cứu của Huynh Truong Huy (2012) và Nguyen Duc Loc et al.
Trong đó, nghiên cứu của Nguyen Duc Loc et al. (2013) xem xét tác động của yếu tố rủi ro của các cú sốc, trình độ giáo dục và tham gia các tổ chức xã hội của các thành viên trong gia đình đến quyết định di cư ở Hà Tỉnh, Thừa Thiên Huế và Đắc Lắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy di cư là quyết định của cá nhân và hộ gia đình gặp các rủi ro kinh tế và nông nghiệp, đặc biệt là vì việc làm, nhưng di cư không phải là quyết định của cá nhân và hộ gia đình gặp các rủi ro xã hội và nhân khẩu, nhưng tất cả các cú sốc này đều không có ý nghĩa trong trường hợp di cư vì giáo dục. Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình lại không có ý nghĩa tác động đến quyết định di cư (Nguyen Duc Loc et al., 2013; Trần Thị Hồng Nhung, 2015).
Bên cạnh đó, trình độ giáo dục thể hiện vốn con người có ý nghĩa trong quyết định di cư vì giáo dục nhưng lại không có ý nghĩa trong quyết định di cư vì việc làm. Ngoài ra, việc tham gia các tổ chức xã hội ở nơi đi phản ánh vốn xã hội là không có ý nghĩa trong quyết định di cư cả vì giáo dục hay vì việc làm, trong khi đó vốn xã hội được xem là hạn chế di cư trong lý thuyết vốn xã hội, nhưng có tác động tích cực đến quyết định di cư trong nghiên cứu của Putman (1993), Portes (1998) và Kwon (2000). Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn con người và vốn xã hội sẽ có tác động khác nhau đến quyết định di cư tùy theo mục đích di cư, tuy nhiên gần như chưa có các nghiên cứu trong phạm vi các đô thị lớn ở vùng ĐNB, ý định tiếp tục di chuyển hay quay trở về của người di cư. Nghiên cứu của Lê Sĩ Hải (2018) tiếp cận theo lý thuyết lựa chọn hợp lý của Friedman và Hechter (1988) phân tích quyết định ở lại làm việc dưới tác động của điều kiện sinh sống như tham gia hoạt động kinh tế - xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tuy nhiên đối tượng nhập cư là các sinh viên sau tốt nghiệp và giới hạn trong phạm vi Tp.
Mặc dù vậy, kết luận mạng lưới 7 xã hội từ gia đình và bạn bè, điều kiện sinh sống thuận lợi thể hiện hòa nhập tốt với thành thị là những nhân tố quan trọng tác động đến quyết định chuyển cư - tiền đề tham khảo quan trọng cho nghiên cứu.