phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm có 3 chương như sau: Chương l: Một số cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hoạt động du lịch. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1.
DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1. Khái niệm du lịch Dựa trên cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều định nghĩa về du lịch. Tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch, Pháp lệnh Du lịch số 11/1999/PL-UBTVQHI0, ngày 08/02/1999 cho rằng: “Dư lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa man nue cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [20]. Với họ, du lịch như là một cơ hội để tìm kiếm những kinh nghiệm sống và thỏa mãn một số nhu cầu vẻ vật chất và tỉnh thần của mình.
Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa du lịch nói chung, theo nghĩa “'vượi ra ngoài nhận thức chung về dụ lịch là chỉ giới hạn trong hoạt động nghỉ lễ, vì mọi người đi du lịch và ở trong những nơi ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tiếp để giải trí và không ít hơn 24 giờ, với 1 mục đích kinh doanh và các mục đích khác.|28] Theo Liên hiệp Quốc tế các Tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO) năm 2005 định nghĩa: “Dư lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.[9] Luật Du lịch số 09/2017/QH14, ngày 19/6/2017 đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá (1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, nghỉ dưỡng, giải tri, tim hiểu, khám phá tài nguyên du lich hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.|22] Luận văn sử dụng định nghĩa du lịch theo Luật Du lịch, ngoài ra, còn một số khái niệm của một số nhà khoa học, một số giáo trình, như sau : - GS. Hunziker va GS. Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lich, dua ra dinh nghia nhu sau: “Du lich la tap hop các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dinh dáng đến hoạt động kiếm lời "[27]. Đây là định nghĩa được chấp nhận bởi Hiệp hội quốc những nhà nghiên cứu khoa học là lấy định nghĩa này làm cơ sở cho môn khoa học du lịch ~ Trong Giáo trình Kinh tế du lịch của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Minh Hòa (2006) có đưa ra định nghĩa: “Dư lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuắt, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch va cho ban than doanh nghiép” [18] 12 ~ Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “du lịch” được định nghĩa: (i) “Một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ở ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thẳng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật. ”; (ii) “Một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phân làm tăng thêm tình yêu đắt nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình. Về mặt kinh tế, dụ lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và lao động dịch vụ tại chỗ”.|6] Dựa trên những khái niệm trên thế giới và Việt Nam, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù và phức tạp, du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội. Trên thực tế, du lịch không chỉ dem lại lợi ích về kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội Như vậy, du lịch ngoài mục đích để du khách thỏa mãn các giá trị về vật chất và tinh than, du lịch còn tạo ra những môi quan hệ phát sinh giữa du khách và dân cư, giữa người cung cấp dịch vụ với chính quyền địa phương.
Đặc điểm của du lịch Xuất phát từ các khái niệm về du lịch, có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu của du lịch như sau: .Một là, du lịch mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ. Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đây mạnh mẽ quá trình phân công lao. động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người. Du lịch đáp ứng các nhu cầu tham quan, giải trí của xã hội, có những đặc điểm riêng biệt so với các ngành kinh tế khác.
Hai là, du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tỉnh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch. 13 Du lịch có đặc điểm riêng biệt là chỉ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong thời gian họ đi du lịch. Sau thời gian làm việc mệt mỏi, con người muốn tìm kiếm một dich vụ để giúp họ cân bằng lại trạng thái, giảm stress, đồng thời khám phá những điều hay bên ngoài. Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh [§] Ba là, việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian.
Cung ứng dịch vụ du lịch và sử dụng dịch vụ du lịch và các hàng hóa, thức ăn kèm theo. đều có chung không gian và chung địa điểm. Du lịch là một lĩnh vực đặc thù, khi người sử dụng du lịch sẽ tìm hiểu và tự tìm đến với người cung ứng du lịch. Vai trò của các hoạt động xúc tiến du lịch, quảng bá sản phẩm dé khách hàng có thẻ nhận biết và tự tìm đến là tối quan trọng.
Bồn là, du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội cho nước làm du lịch và người làm du lịch. Ngoài lợi ích trước mắt về kinh tế, du lịch còn mang lại những điề đẹp đối với chính trị, văn hóa và xã hội. Đối với một số c gia có điều kiện ưu đãi, việc phát triển du lịch, đưa ngành du lịch thành ngành mũi nhọn trong tổng thu nhập quốc gia. Dịch vụ du lịch có giá trị xuất khẩu cao và hiệu quả kinh tế — xã hội cao nhất trong các hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc biệt là theo góc độ thu ngoại tệ và thu hút lao động, tạo công ăn việc làm.
Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân đia phương, giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển, làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa - xã hội. Năm là, du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định. 14 Mỗi quốc gia sẽ lựa chọn cho mình một thể chế chính trị phù hợp với tư tưởng thống trị của giai cấp lãnh đạo. Nó sẽ quyết định đến phương thức cai trị, đường lối chính sách phát triển KT-XH, chính sách đối ngoại của quốc gia đó và được cụ thê hoá bằng hệ thống văn bản pháp luật.
Một quốc gia bất ôn về chính trị sẽ rất khó để phát du lịch vì du lịch rất nhạy cảm với tình hình. Du lịch phát triển trong các quốc gia hòa bình, các dân tộc hữu nghị. Bắt ồn, chiến tranh, mắt an ninh, đi lại khó khăn, nguy hiểm, hư hỏng phá hoại các công trình cô điển, môi trường. Du lịch tạo đòn bây thúc day hoa bình, chính trị, qua du lịch, con người thể hiện được tình yêu với cuộc sống, nguyện vọng được sống trong tự do, trong mối quan hệ hòa bình.
e Vai trò của ngành dụ lịch Một là, du lịch có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc. Du lịch vốn là một ngành có đóng góp tích cực cho tông thể nền kinh tế của một quốc gia. Du lịch quốc tế thu hút được nguồn ngoại tệ quốc tế cho. quốc gia, du lịch nội địa thu hút nguồn tài chính trong nước.
Như vậy, du lịch góp phần làm tăng thu nhập cho một quốc gia thông qua các lĩnh vực của nó. Hai là, du lịch có ảnh hưởng tích cực lên nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp. “Trước hết, du lịch là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành. Nhiều khu vực khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán lẻ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính.
Như vậy, có thể khái quát các vấn đề về chính sách du lịch bao trùm một chuỗi lớn các lĩnh vực và lợi ích. Giá trị gia tăng của ngành dịch vụ tăng cao hơn mức tăng GDP và cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ, đã góp phần nâng mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Các ngành dịch vụ có giá trị cao 15 như ngân hàng, hàng không, bưu chính viễn thông, du lịch. được khai thác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.
Du lịch giúp củng cố và phát triển quan hệ quốc tế, do đó đã mở rộng thị trường, tăng thêm bạn hàng đối với các ngành tham gia vào hoạt động xuất khẩu.