Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm định chất lƣợng giáo dục trƣờng THPT Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm định chất lƣợng giáo dục trƣờng THPT ở tỉnh Đắk Nông Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chất lƣợng giáo dục trƣờng THPT tỉnh Đắk Nông e 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Thực tế, từ những năm 1930 và 1940, ở Hoa Kỳ, tƣ tƣởng về đảm bảo chất lƣợng và quản lý chất lƣợng tổng thể (TQM) đã đƣợc một số học giả khởi xƣớng và phát triển; trong đó phải kể tên tuổi của W. Edwards Deming, Walter A.
Shewart,… Là ngƣời đi tiên phong trong quản lý chất lƣợng, W. Edwards Deming (1900-1993) đã có ảnh hƣởng lớn nhƣ nhƣ một nhà lý luận về quản lý và nổi tiếng tại Nhật Bản từ những năm 1950 khi đƣợc mời trở lại để giảng về Kiểm soát chất lƣợng bằng thống kê. Ứng dụng phƣơng pháp Kiểm soát quá trình thống kê của Walter A. Shewhart vào tính toán và quản lý tiến trình công việc, Deming đã phát triển thành chu trình PDCA (Plan - Do - Check - Act, tức là Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Hành động cải tiến) - “đƣợc coi là phƣơng pháp đầu tiên cho quản lý cải tiến chất lƣợng liên tục.
Trong môi trƣờng kinh doanh, đảm bảo chất lƣợng đƣợc xem là một quá trình mà ở đó một nhà sản xuất phải đảm bảo với khách hàng là sản phẩm hay dịch vụ của mình luôn đáp ứng đƣợc chuẩn mực. Trong giáo dục, kiểm định chất lƣợng đƣợc xem là một trong những hoạt động của hệ thống đảm bảo chất lƣợng, là giải pháp hữu hiệu đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng để nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Theo Phạm Xuân Thanh (2014) [49], KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, và hiện nay đang đƣợc nhiều nƣớc sử e 8 dụng. Trên thế giới hiện có hơn 150 nƣớc có hệ thống quốc gia đảm bảo và KĐCLGD.
Hoa Kỳ là một trong những nƣớc có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời và cũng là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực KĐCLGD, ban đầu là với các trƣờng đai học. Hiện nay, ở Hoa Kỳ có 56 tổ chức kiểm định chất lƣợng độc lập, phần lớn đều do khu vực tƣ nhân hoặc hiệp hội nghề nghiệp đảm nhiệm (tính đến 2013). Nhà nƣớc Liên bang chỉ thành lập Ủy ban tƣ vấn quốc gia về chất lƣợng và liêm chính đại học (NACIQI), giao trách nhiệm công nhận, quản lý và hỗ trợ các tổ chức, trung tâm kiểm định chất lƣợng độc lập trên toàn nƣớc Mỹ. Hiện nay, trên thế giới có nhiều mạng lƣới tổ chức chất lƣợng/ đảm bảo chất lƣợng nhƣ: Mạng lƣới các tổ chức đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học quốc tế (International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education – INQAAHE); Mạng lƣới chất lƣợng châu Á - Đắk Nông Dƣơng (Asia-Pacific Quality Network – APQN); Mạng lƣới đảm bảo chất lƣợng ASEAN (ASEAN Quality Assurance Network – AQAN); Mạng lƣới các trƣờng đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - Quality Assurance, viết tắt là AUN-QA)… Ở các quốc gia Đông Nam Á, mô hình đảm bảo chất lƣợng cũng rất đa dạng, nhƣng điểm chung là hầu hết các tổ chức/ cơ quan đảm bảo chất lƣợng quốc gia đều do nhà nƣớc thành lập, đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lƣợng.
Theo Tổ chức Bộ trƣởng Giáo dục các nƣớc Đông Nam Á (SEAMEO) (2002), ĐBCLGD có thể là những quan điểm, chủ trƣơng, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng sứ mạng và mục tiêu giáo dục đang đƣợc thực hiện, các chuẩn mực đang đƣợc duy trì và nâng cao. ĐBCLGD là thuật ngữ chung đề cập đến một loạt các biện pháp và cách tiếp cận, sử dụng để nâng cao chất lƣợng giáo dục. e 9 “Khung đảm bảo chất lượng trong khu vực” của SEAMEO (2003) đã chỉ ra: Hệ thống ĐBCL đào tạo bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quá trình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở đào tạo dùng để thực hiện quản lý đồng bộ, nhằm đạt đƣợc những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể do nhà nƣớc ban hành, để nâng cao và liên tục cải tiến chất lƣợng đào tạo nhằm thỏa mãn yêu cầu của ngƣời học và đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động. KĐCLGD nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lƣợng giáo dục; xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lƣợng đào tạo; làm cơ sở cho ngƣời học lựa chọn cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực.
[49] Trong “Quản lý chất lượng trong các trường học”, D. Warren Piper (1993) đã xác định các chức năng đảm bảo chất lƣợng của cơ sở đào tạo bao gồm: xác lập chuẩn, xây dựng quy trình, xác định tiêu chí đánh giá và vận hành, đo lƣờng, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu. [40] Hội đồng Kiểm định giáo dục đại học (Council for Higher Education Accreditation – CHEA) của Hoa Kỳ (2003) định nghĩa: “Kiểm định chất lƣợng là một quá trình xem xét chất lƣợng từ bên ngoài, đƣợc giáo dục đại học sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lƣợng. Nhƣ vậy, trên thế giới, KĐCLGD đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, nhƣng trƣớc đây ít đƣợc các nƣớc khác biết đến.
Hiện nay KĐCLGD ngày càng trở nên phổ biến hơn, bởi nó chứng tỏ là một công cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới duy trì các chuẩn mực chất e 10 lƣợng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. KĐCLGD là một trong những hoạt động đảm bảo chất lƣợng bên ngoài cơ sở đào tạo. Mục tiêu chính của KĐCLGD là nhằm đảm bảo đạt đƣợc những chuẩn mực nhất định trong đào tạo và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lƣợng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của ngƣời sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho ngƣời học. Ở một số nơi, KĐCLGD còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay với các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí.
Ngoài ra, KĐCLGD còn nhằm đƣa ra các quyết định công nhận về mức độ tiến bộ và ĐBCLGD tại các cơ sở giáo dục… Tóm lại, tổng quan một số nghiên cứu về đảm bảo và kiểm định chất lƣợng giáo dục ở ngoài nƣớc, có thể đi đến một số nội dung sau: Một tổ chức có chất lƣợng thì sản phẩm hay dịch vụ của nó sẽ có chất lƣợng. Đặc trƣng chất lƣợng của sản phẩm và dịch vụ cũng không hoàn toàn giống nhau do sự khác nhau giữa sản phẩm và dịch vụ. Trong giáo dục, đảm bảo chất lƣợng có thể liên quan đến một chƣơng trình đào tạo hay một cơ sở giáo dục. Mỗi mạng lƣới tổ chức chất lƣợng đều đƣa ra khung đảm bảo chất lƣợng bao gồm các khía cạnh chiến lƣợc, hệ thống và thực hiện chức năng, với các tiêu chuẩn mở theo một khung ma trận có thể hỗ trợ linh hoạt lựa chọn các tiêu chuẩn thích hợp cho từng cấp độ chƣơng trình đào tạo hay cơ sở giáo dục.
Mỗi cơ sở giáo dục có một quy trình đảm bảo chất lƣợng bên trong riêng và có thể sử dụng nó theo cách riêng của mình để quản lý, cải tiến và phát triển. Tổ chức/ cơ quan KĐCLGD thực hiện đánh giá chất lƣợng bên ngoài (kiểm định chất lƣợng) để đƣa ra báo cáo về các ƣu điểm và khuyến nghị để cho các cơ sở giáo dục tự cải tiến, nâng cao chất lƣợng. Hệ thống ĐBCL bên trong bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quá trình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở giáo dục dùng để thực hiện e 11 quản lý đồng bộ, đạt đƣợc những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể do nhà nƣớc ban hành. Các chức năng kiểm định chất lƣợng của cơ sở giáo dục bao gồm: xác lập chuẩn; xây dựng các quy trình; xác định các tiêu chí đánh giá; vận hành đo lƣờng, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu.
Bên trên là một số luận điểm đƣợc rút ra từ công bố của các tổ chức chất lƣợng và các nghiên cứu về đảm bảo và KĐCLGD trên thế giới. Những luận điểm này có thể đƣợc kế thừa và phát triển khi nghiên cứu về quản lý đảm bảo và kiểm định chất lƣợng ở Việt Nam. Trong nước Bƣớc vào thế kỷ XXI, trƣớc sự phát triển vƣợt bậc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, Việt Nam đang đứng trƣớc nhiều cơ hội và thách thức lớn, đòi hỏi các nhà quản lý quốc gia ý thức đƣợc sâu sắc và thực sự thức tỉnh về vai trò, sức mạnh to lớn của giáo dục trong công cuộc chấn hƣng đất nƣớc mình. Trong bối cảnh đó, giáo dục Việt Nam không những phải mở rộng quy mô mà còn phải không ngừng nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo nhằm cung cấp đƣợc nguồn nhân lực chất lƣợng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nƣớc.
Nhận thức về vai trò quan trọng của đảm bảo và KĐCLGD trong việc chấn hƣng nền giáo dục, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nƣớc trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ngay từ thập niên đầu của thế kỷ XXI, Đảng, Nhà nƣớc cũng nhƣ Bộ GD&ĐT đã quan tâm xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD tuy đây là những vấn đề tuy còn khá mới ở Việt Nam. Năm 2002, ở cấp quốc gia, một đơn vị chuyên trách kiểm định chất lƣợng mới hình thành thuộc Vụ Đại học, sau đó là Cục Khảo thí và KĐCLGD thuộc Bộ GD&ĐT (3003), và hiện nay là Cục Quản lý chất e 12 lƣợng - Bộ GD&ĐT (2017).