Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Quyển sách: “Managing staff development in schools: An action research approach” (Quản lý phát triển nhân sự trong trường học: Cách tiếp cận từ các nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng) của Pamela Lomax xuất bản năm 1990. Quyển sách tập hợp nhiều bài viết của các chuyên gia giáo dục, giới thiệu nhiều nội dung có liên quan luận văn như: quan điểm về phát triển đội ngũ nhân sự tại các trường học thông qua các hoạt động NCKHSPƯD; giới thiệu nền tảng thực hành và công cụ cho tổ chức hoạt động nghiên NCKHSPƯD tại nhà trường cũng như cách thức xây dựng ra các biện pháp mới để cải thiện tri thức giáo dục trong quá trình giảng dạy,… Quyển sách: “Short guide to action research” (Hướng dẫn giản lược về NCKHSPƯD) do Andrew P.
Johnson, Minnesota chủ biên, tái bản lần thứ 4, năm 2012. Quyển sách có 15 chương, giới thiệu tổng quát nhất các vấn đề cơ bản liên quan đến NCKHSPƯD rất có giá trị tham khảo cho nhà nghiên cứu, giáo viên, kể cả nhà quản lý giáo dục khi triển khai hoạt động nghiên cứu này. Tuy nhiên, quyển sách chưa bàn nhiều về quản lý hoạt động NCKHSPƯD của đội ngũ nhà quản lý giáo dục - vốn là đối tượng được quan tâm chính của luận văn (Andrew P. Bài báo khoa học: “Benefits of collaborative action research for the beginning teacher” (Lợi ích của việc hợp tác nghiên cứu đối với giáo viên mới vào nghề) của nhóm tác giả Sidney N.
Reillyb và Mary Ellin Loguea đăng trên Tạp chí “Teaching an Teacher Education”, số 25, kỳ 2, tháng 2/2009. Mitchella et al. (2009) cho rằng, giáo viên mới bắt đầu vào nghề giảng dạy luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề của sự nghiệp họ như quản 8 lý lớp, sự khác biệt cá nhân, quan hệ với đồng nghiệp, học sinh và cả đối với phụ huynh,… Bài viết lặp luận rằng, cách tiếp cận tốt nhất đề phát triển sự nghiệp của giáo viên mới vào nghề và giải quyết các vấn đề sư phạm họ đang đối mặt chính là thông qua mô hình hợp tác trong nghiên cứu, tức là nhấn mạnh đến sự cộng tác giữa giáo viên với nhau, với học sinh và cả giáo viên cố vấn trong quá trình giảng dạy. Đối với luận văn, cách lập luận của bài báo gợi mở cho học viên nhiều ý tưởng về nâng cao công tác lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong đó việc hình thành nhóm nghiên cứu, tương tác và hỗ trợ nhau cũng cần được xem xét.
Bài báo khoa học: “Action research in Singapore education: constraints and sustainability” (Hoạt động nghiên cứu khoa học ở nền giáo dục Singapore: Những giới hạn và sự phát triển bền vững) của tác giả Hairon Salleh công bố trên Tạp chí Education Action Research, số 14, kỳ 4, năm 2006. Salleh (2006) nhấn mạnh, các hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm trong trường học ngày càng nhận được sự quan tâm của các lãnh đạo nhà trường bởi sự thúc đẩy từ Bộ Giáo dục của Singapore bằng các cơ chế, chính sách mới, đa dạng và thông thoáng hơn. Bài viết nhấn mạnh, hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm được xem là phương tiên phát triển chuyên nghiệp nghề nghiệp của giáo viên. Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích một số rào cản gây ra những hạn chế nhất định đối với những nỗ lực trong nghiên cứu khoa học sư phạm của đội ngũ giáo viên trong các nhà trường.
Bài báo khoa học: “Exploring student experiences of belonging within an urban high school choral ensemble: an action research study” (Khám phá trải nghiệm của một nhóm hợp xướng ở trường trung hoc khu vực thành thị: Qua nghiên cứu KHSPUD) của Elizabeth Cassidy Parker công bố trên Tạp chí Music Education Research, số 12, kỳ 4, năm 2010. Trong đó, 26 ca sĩ là học sinh vị thành niên trong trường trung học ở thành thị được chọn tham gia nghiên cứu, chia thành các nhóm nhỏ, trải nghiệm qua 5 chủ đề, hoạt động do nhóm nghiên cứu đưa ra để khám phá sự phát triển đầy đủ hơn về tình cảm và xã hội. Bài báo khoa học: “Using a participatory action research approach to create a universally designed inclusive high school science course: A case study” (Sử dụng cách tiếp cận NCKHSPƯD có sự tham dự để tạo ra một khoá học tại 9 trường trung học: Từ một tình huống nghiên cứu) của Stacy K. Dymond và các cộng sự đăng trên tạp chí SAGE journals, xuất bản năm 2006.
Bài viết nhấn mạnh sự dụng kết hợp nghiên cứu trường hợp và NCKHSPƯD có sự tham gia để kiểm tra lại quá trình thiết kế của khoá học khoa học ở trường trung học, cho 2 nhóm học sinh khuyết tật và không khuyết tật. Kết quả kiểm tra lại là căn cứ đề điều chỉnh, thay đổi cần thiết về hoạt động giảng dạy, tổ chức học tập, tham gia của học sinh,… Bài báo khoa học: “A historical review of action research: Some implications for the education of teachers in their managerial role” (Một đánh giá lịch sử về NCKHSPƯD: Vài hàm ý cho sự nghiệp giáo dục của giáo viên gắn với vai trò quản lý của họ) của Mike Wallace đăng trên tạp chí Journal of Education for Teaching (International research and pedagogy) số 13, kỳ 2, xuất bản năm 2006. Bài viết đặt ra vấn đề rằng các nhà quản lý giáo dục cũng như giáo viên cần nhận thức rõ vị trí của họ ở 5 vấn đề, trong đó có “mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành”, “hỗ trợ, giám sát cho đội ngũ NCKHSPƯD”. Bài báo khoa học: “Teachers as researchers: Implications for supervision and for teacher education” (Giáo viên - nhà nghiên cứu: Những hàm ý cho việc giám sát và việc giáo dục giáo viên) của John Elliott, công bố năm 2002 trên Tạp chí Teaching and Teacher Education.
Quan điểm trung tâm của nghiên cứu này là sự tái khẳng định vai trò to lớn của các nhà quản lý giáo dục trong các tổ chức giáo dục nhằm thúc đẩy NCKHSPƯD. Ở Việt Nam Bài báo khoa học: “Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, một loại hình nghiên cứu phù hợp trong giáo dục” của tác giả Ngô Viết Sơn được đăng trên Tạp chí Giáo dục số 297 (kì 1-11/2012). Công trình đã giới thiệu khá khái quát các vấn đề cơ bản về nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng như khái niệm, chu trình, phương pháp,… có chú ý phân tích hiện trạng vấn đề này và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan. Tác giả Ngô Viết Sơn (2012) cũng chỉ ra thực trạng của hoạt động này, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của công tác nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đối với yêu cầu đẩy mạnh căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam và nhấn mạnh đây là công việc 10 quan trọng, thường xuyên không chỉ của những nhà nghiên cứu giáo dục mà còn của giáo viên, cán bộ quản lý.
Các tri thức này có ý nghĩa trong việc hình thành khung lí thuyết và cách tiếp cận của luận văn. Bài báo khoa học: “Hiệu trưởng tiểu học quản lý nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng theo tinh thần “TQM”” của tác giả Phạm Huy Tư, được đăng trên Tạp chí Giáo dục số 313 năm 2012. Chủ đề của bài viết khá gần gũi với cách tiếp cận của luận văn - bàn về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (tất nhiên phạm vi và khách thể nghiên cứu có thể không hoàn toàn trùng nhau). Bên cạnh giới thiệu tri thức chung về hoạt động nghiên cứu kho học ứng dụng, bài nghiên cứu đã có đóng góp nổi bật khi vận dụng “TQM”- kiểu quản lý chất lượng tổng thể vào quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
Tác giả đã tìm thấy sự tương đồng và cần thiết của TQM để áp dụng vào quy trình nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng nhằm tăng tính khoa học, thực chứng và khách quan của các biện pháp nghiên cứu được đề xuất thông qua 6 đề xuất vận dụng của tác giả. Đối với luận văn, nội dung bài viết giúp tác giả hiểu hơn về bản chất và sự khác biệt căn bản của hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng với sáng kiến kinh nghiệm, quan trọng hơn, là gợi ra những ý tưởng về mặt biện pháp cho luận văn khi áp dụng mô hình quản lý chất lượng trong quản lí học một cách phù hợp vào quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ở các trường học phổ thông hiện nay. Bài báo khoa học: “Thực trạng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của giáo viên tiểu học ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Nguyễn Thị Như Quyến đăng trên Tạp chí Giáo dục số 387, năm 2017. Bài viết đã phân tích thực trạng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của giáo viên tiểu học ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thông qua quản lý và hoạt động dạy học.
Những kết quả của bài viết giúp các nhà quản lý giáo dục tìm ra những biện pháp phù hợp với địa phương về hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở bậc tiểu học. Tuy không gian nghiên cứu có sự khác biệt với luận văn và việc phân tích thực trạng quản lý hoạt động này nhìn từ góc độ khoa học quản lý chưa thực sự sáng rõ nhưng các biện pháp mà tác giả 11 Nguyễn Thị Như Quyến đưa ra trong bài viết có giá trị tham khảo lớn đối với việc hoàn thiện chủ đề luận văn đang tiếp cận và nghiên cứu. Chuyên đề giảng dạy: “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ở trường tiểu học” của giảng viên Võ Văn Toàn, trường Đại học Quy Nhơn, năm 2020. Bài giảng đề cập đến 3 nội dung lớn là: (1).
Vị trí, vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ở trường tiểu học; (2). Tạo lập môi trường nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ở trường tiểu học và (3). Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ở trường tiểu học. Trong đó, đối với luận văn, nội dung số (2) và (3) của bài giảng có ý nghĩa lý luận, đặc biệt nội dung số (3).
Trong bài giảng này, tuy giới thiệu nghiên cứu khoa học sư phạm ở cấp độ trường tiểu học song giảng viên Võ Văn Toàn đã dựa trên tri thức căn bản của khoa học quản lý, chức năng của quản lý để khái quát khung phân tích về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ở trường tiểu học.