phần Mở đầu, Kết luận & khuyến nghị, Tài liệu tham khảo chính và Phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 03 Chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên ở Trƣờng Cao đẳng. Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trƣờng Cao đẳng Bình Định. Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trƣờng Cao đẳng Bình Định.
e 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Hiện naytrong mục tiêu phát triển giáo dục, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đều nhấn mạnh đến công tác đào tạo và phát triển KH-CN. Đây là những mục tiêu kép không thể thiếu trong chiến lƣợc phát triển nền kinh tế tri thức, thúc đẩy sự phát triển toàn diện về văn hoá, xã hội và công nghệ theo hƣớng hiện đại hóa quốc gia.
Theo thống kê của Website Scimago Journal & Country Rank, các nhà khoa học đã đƣa ra khá nhiều vấn đề, tiêu chí đánh giá về chỉ số khoa học của các tạp chí và tình hình khoa học các quốc gia thì những nƣớc có hoạt động NCKH ở các Trƣờng ĐH-CĐ diễn ra mạnh mẽ thƣờng là những nƣớc có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển hàng đầu thế giới. Để có thể đạt đƣợc điều này thì vấn đề về QL hoạt động NCKH ở các Trƣờng ĐH-CĐ cũng đƣợc đặt ra. Hai nhà nghiên cứu Blackbum, R. H (1995), [23] đã NC về động cơ thực hiện, sự mong đợi và sự thỏa mãn trong công việc của GV.
Từ công trình này, qua đó các tác giả kết luận rằng các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng NC nhƣ tuổi tác, giới tính, trƣờng đào tạo, vị trí nghề nghiệp, môi trƣờng nghề nghiệp và các thay đổi trong cuộc sống. Trong tác phẩm Azad & Seyyed (2007),“Kỹ năng nghiên cứu và đào tạo” [22] đã đi tìm động cơ của quá trình NC, các quan niệm của cá nhân về ý nghĩa của việc NC và đánh giá năng lực của chính bản thân để thực hiện việc NC. Môi trƣờng làm việc và tác động của môi trƣờng làm việc đối với kết quả NC. Trong nội dung NC của công trình Chen, Y, Gupta, A., & Hoshower, L (2006), Factors e 7 That Motivate Faculty to Conduct Research: An Expectancy Theory Analysis [17, tr.
178-189], cho rằng GV trong các Trƣờng ĐH-CĐ thƣờng có xu hƣớng đánh giá cao những giá trị vật chất và tinh thần sẽ đạt đƣợc sau khi công trình nghiên cứu đƣợc hoàn thành. Theo đó, các GV trong biên chế có hứng thú hơn đối với các phần thƣởng về tinh thần cho công trình nghiên cứu của họ. Còn đối với các GV ngoài biên chế thì ngƣợc lại, họ đòi hỏi một phần thƣởng về vật chất là chủ yếu hơn. [24] Từ góc độ lý thuyết QL bản thân khoa học một cách khoa học, nhóm tác giả Anantistep K.
(1980), cũng rất quan tâm đến vấn đề năng lực NCKH của GV các Trƣờng ĐH, CĐ. Trong Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý và tổ chức khoa học, nhóm tác giả đã khẳng định thành tựu QL trong khoa học phụ thuộc vào vấn đề: Thỏa mãn những nhu cầu, quyền lợi, động cơ của các nhóm cán bộ khoa học khác nhau, những phƣơng pháp khách quan của việc cấp văn bằng, việc đào tạo và sử dụng các cán bộ khoa học, sự kích thích nghề nghiệp trong khoa học và những đặc điểm cần thiết của ngƣời lãnh đạo tập thể khoa học. [21] Qua các công trình nghiên cứu trên, ta thấy đƣợc nội dung xoay quanh vấn đề chủ yếu đó chính là động lực thực hiện các công trình NC của GV tại các Trƣờng ĐH-CĐ của các nghiên cứu viên tại các viện nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho rằng môi trƣờng nghiên cứu giữ vai trò quan trọng ảnh hƣởng đến kết quả cuối cùng của công trình nghiên cứu đó.
Các nhân tố nhƣ cơ sở vật chất, sự hỗ trợ từ các nguồn lực khác nhau cũng có thể tác động và cho ra những kết quả NC khác nhau. Bên cạnh đó, yếu tố chủ quan của chính ngƣời nghiên cứu nhƣ năng lực, hành vi cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả nghiên cứu. Tóm lại, có thể nói các công trình nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở việc tìm ra động cơ dẫn đến hoạt động NCKH và cho rằng từ động cơ này sẽ e 8 cho ra hành động mà không thấy đƣợc rằng động cơ muốn dẫn đến thực hiện hành vi phải thông qua một quá trình, cũng nhƣ hội đủ những điều kiện nhất định mới có thể chuyển hóa thành hành vi NCKH cụ thể. Các nghiên cứu ở trong nước Hoạt động NCKH của GV ở các Viện, các Trƣờng ĐH-CĐ ở Việt Nam đã đƣợc chú trọng và quan tâm nhiều hơn trƣớc, về phƣơng diện QL hoạt động NCKH cũng có nhiều công trình nghiên cứu đƣợc tiến hành, cụ thể có thể kể đến một số công trình nghiên cứu cơ bản nhƣ sau: Về tiểu luận, bài báo khoa học, qua thống kê tìm hiểu, chúng tôi xin nêu bật một số tác giả và công trình như sau: Trần Thị Thu Hƣơng (2006), Tăng cường liên kết hoạt động NCKH với đào tạo để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đại học ở ĐHQG TP.
Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo đảm bảo chất lƣợng trong đổi mới giáo dục ĐH, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; Trần Mai Ƣớc (2011), Giáo dục Việt Nam trong xu thế hội nhập, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, trƣờng Đại học Ngân hàng Tp.HCM, số 67; Đào Thị Oanh và Lê Mỹ Dung (2014), Năng lực NCKH giáo dục của GV đại học sư phạm, Tạp chí Khoa học, Trƣờng ĐHSP Hà Nội, số 59/6A; Lê Hữu Ái và Lâm Bá Hòa (2010), NCKH - Yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ GV trong các trường đại học, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nằng - số 4- 39, Đà Nẵng [1]; Nguyễn Kiều Oanh (2010), Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH trong cơ sở giáo dục đại học - Kinh nghiệm từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn 26 [13];. Về luận văn thạc sĩ, chúng ta có thể điểm qua một số công trình đã được công bố như: Nguyễn Thị Thanh Nga (2007), QL hoạt động giảng dạy và NCKH của GV trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP. HCM, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP. Nội dung chủ yếu của e 9 công trình khoa học này phân tích, tìm hiểu công tác QL của CBQL đối với hoạt động giảng dạy và NCKH của GV trƣờng Đại học Sƣ phạm kỹ thuật TP.
HCM và từ đó tìm giải pháp QL hoạt động chuyên môn của GV, đáp ứng yêu cầu phát triển của trƣờng [9]; Phan Thị Tú Nga (2011), Biện pháp QL hoạt động NCKH của GV Đại học Huế, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD, ĐHSP Huế. Nội dung NC thực trạng và đề xuất những biện pháp QL của KH- CN - Đại học Huế đối với hoạt động NCKH của GV Huế, bao gồm QL các nhiệm vụ KH-CN cấp Nhà nƣớc, cấp Bộ, cấp cơ sở và QL việc công bố các công trình nghiên cứu khoa học [10]; Vƣu Thị Thùy Trang (2012), Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của GV trường Đại học Bách khoa - Đại học quốc gia TP. Luận văn thạc sĩ Đo lƣờng và Đánh giá trong giáo dục, Đại học Bách khoa - Đại học quốc gia TP. Trong công trình NC này tác giả tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến GV trƣờng Đại học Bách khoa - Đại học quốc gia TP.
HCM thực hiện NCKH qua đó so sánh đánh giá GV giữa các nhóm ngành khoa học khác nhau, GV giữa các nhóm có năng suất NC khác nhau, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến công tác NCKH tại trƣờng [19]; Đặng Trung Thành (2013), Nội dung NC lý luận QL hoạt động NCKH và phân tích thực trạng QL hoạt động NCKH của CBGV và ngƣời nghiên cứu Trƣờng Cao đẳng Nghề Đà Lạt. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp QL của nhà trƣờng nhằm nâng cao NCKH của CBGV Trƣờng Cao đẳng Nghề Đà Lạt. [16] Ở cấp độ luận án Tiến sĩ, chúng tôi cũng tìm hiểu một số công trình đƣợc bảo vệ và có ảnh hƣởng khá lớn trong công tác QL hoạt động NCKH trong nhà Trƣờng ĐH-CĐ. Chúng tôi xin liệt kê một số công trình nhƣ sau: Nguyễn Thị Tuyết (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn QL hoạt động NCKH ở các trường đại học Việt Nam theo định hướng bình đẳng giới; Hoàng Thị Nhị Hà (2009), Quản lý NCKH ở các trường Đại học sư phạm; Lê Yên Dung (2010), Mô hình QL hoạt động NCKH trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực.
e 10 Ngoài ra, về nội dung nghiên cứu này, chúng tôi còn tiếp cận đƣợc một số đề tài cấp Bộ nhƣ: Nguyễn Phúc Châu, Giải pháp nâng cao chất lượng QL hoạt động KH-CN của các Trường CBQL GD-ĐT; Trần Khánh Đức (2000), Đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH trong các trường đại học giai đoạn 1996-2000; Vƣơng Thanh Hƣơng, Ứng dụng Công nghệ thông tin trong QL các nhiệm vụ nghiên cứu KH-CN ở các trường đại học; Lê Vân Anh, Đề xuất một số giải pháp ứng dụng Công nghệ thông tin trong QL hoạt động nghiên cứu KH-CN (lĩnh vực giáo dục) ở một số cơ sở nghiên cứu;. Qua các công trình đã liệt kê trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề nghiên cứu đã đƣợc các tác giả giải quyết một cách khá cơ bản. Tuy nhiên, các tác giả không đề cập đến các nội dung quản lý cụ thể khi QL đề tài NCKH, chƣa đề cập đến việc xây dựng quy trình cụ thể trong QL đề tài NCKH, chƣa nêu bật đƣợc sự tƣơng tác giữa chủ thể QL với các chủ thể có liên quan khi QL đề tài NCKH, chƣa chỉ ra thi đua là hình thức tạo động lực bền vững cho lực lƣợng nghiên cứu và lực lƣợng quản lý NCKH, chƣa bàn tới việc định hƣớng nghiên cứu theo hƣớng NCKH sƣ phạm ứng dụng (SPUD). Trƣớc khi công trình này đƣợc thực hiện thì chƣa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề QL hoạt động NCKH của GV tại Trƣờng CĐBĐ.
Đây là một trong những thuận lợi và khó khăn của tác giả luận văn khi triển khai đề tài này.