CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHCN VÀ QLHĐCV ĐỐI VỚI KHCN 1. Khái quát về dịch vụ cho vay KHCN 1. Khái niệm dịch vụ cho vay KHCN Tại Việt Nam, hoạt động cho vay được xem xét trên cơ sở quan hệ kinh tế giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên vay), trong quan hệ này ngân hàng sẽ chuyển giao quyền sử dụng tiền trong thời gian nhất định cho khách hàng (có thể là tổ chức hoặc cá nhân). Khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết giữa hai hoặc nhiều bên, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ngân hàng tiền gốc và lãi vay theo như thỏa thuận.
Vấn đề này đã được cụ thể hóa và thể chế hóa theo quy định của pháp luật về tín dụng (tại khoản 16 Điều 4) trong đó có nêu: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Khái niệm này đóng vai trò nền tảng pháp lý cho các hoạt động cho vay của các NHTM trên toàn lãnh thổ Việt Nam, luận văn này tác giả cũng sử dụng khái niệm này để phân tích trong các phần tiếp theo. Trong khái niệm cho vay, có đề cập đến việc cấp tín dụng. Tín dụng được hiểu theo nghĩa rộng là “một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.” Theo Nguyễn Văn Ngọc, tín dụng là “khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, nhất là các khoản vay ngắn hạn. Cấp tín dụng có nghĩa là tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các khoản chi tiêu của người khác để đổi lấy một số tiền sẽ được hoàn trả trong tương lai. Việc cho vay hay “tài trợ” được coi là gián tiếp khi nhà sản xuất hoặc nhà buôn cung cấp hàng hóa “dưới hình thức tín 10 dụng” tức mua chịu, không phải trả tiền ngay).
Việc một người “có một khoản tín dụng” đồng nghĩa việc anh ta có một phương tiện để mua hàng hóa mà không phải trả tiền ngay, hoặc có thể rút tiền từ một tổ chức cho vay nào đó.” Còn theo Lê Trung Thành (2002), tín dụng “là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán.” Tác giả sử dụng khái niệm tín dụng của Lê Trung Thành (2002) trong luận văn này. Hoạt động cho vay của ngân hàng được phân chia theo các nhóm đối tượng như: (1) nhóm khách hàng là doanh nghiệp, (2) nhóm khách hàng là các tổ chức cho vay khác và (3) nhóm khách hàng là cá nhân. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung phân tích hoạt động cho vay của ngân hàng cho nhóm đối tượng là KHCN. Trên cơ sở khái niệm cho vay vừa trình bày, có thể định nghĩa cho vay KHCN là “quan hệ kinh tế mà trong đó Ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của cá nhân”.
Đặc điểm của dịch vụ cho vay KHCN - Đối tượng cho vay: là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi khách hàng là cá nhân thì nhỏ và chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa - xã hội. - Thời hạn vay vốn: tùy thuộc vào mục đích và hình thức vay vốn mà các khoản vay của KHCN có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. - Mục đích vay vốn của KHCN: sản xuất kinh doanh; mua sắm đầu tư tài sản cố định; kinh doanh chứng khoán; tiêu dùng cá nhân; du học; tín chấp; học phí; mua nhà đất để ở; mua ô tô; và một số sản phẩm khác.
11 - Lãi suất cho vay: thường cao hơn so với các loại lãi suất vay khác, tuy nhiên KHCN thường quan tâm đến số tiền lãi họ phải trả hơn là lãi suất cho vay. - Hạn mức cho vay KHCN thường cũng không lớn do việc sử dụng tiền vay chủ yếu là cho mục đích tiêu dùng của cá nhân. Nhìn chung các NHTM đưa ra hạn mức cho KHCN dựa vào nhu cầu vốn và tài sản đảm bảo, nguồn thu nhập của KHCN có thể trả nợ cũng như uy tín, trình độ học vấn của họ là những yếu tố được xem xét khi thẩm định để NHTM duyệt các khoản vay KHCN. - Rủi ro đối với hoạt động cho vay KHCN khá cao do những biến động khó lường về tình hình tài chính (ví dụ như tình trạng việc làm có thể bị ảnh hưởng do dịch bệnh), sức khỏe (thay đổi do thói quen sinh hoạt không lành mạnh sử dụng bia rượu, thuốc lá, v.), và các khoản vay tín chấp không cần tài sản đảm bảo.
Vai trò của dịch vụ cho vay KHCN * Đối với NHTM Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KHCN thúc đẩy mối quan hệ qua lại chặt chẽ với các KHCN, từ đó ngân hàng có thể nắm bắt được tâm lý của KHCN và có thể giới thiệu, cung cấp các sản phẩm/dịch vụ có giá trị gia tăng cho KHCN như dịch vụ thẻ, Internet banking, Mobile banking. Thông qua tương tác với KHCN, ngân hàng có thể nắm bắt tình hình tài chính của KHCN từ đó ngân hàng có thể xây dựng các chiến lược nhằm huy động tiền gửi của KCHN. Đây là kênh bán hàng hiệu quả với ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng để chiếm lĩnh thị phần trên thị trường tài chính. Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KHCN là một phần của chiến lược đa dạng hóa có khả năng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao lợi nhuận, tăng thị phần cho các ngân hàng.
Giá trị từng khoản vay cá nhân tuy nhỏ nhưng số lượng KHCN lại lớn và tầng lớp trung lưu của Việt Nam ngày một gia tăng, dẫn tới xu hướng tiêu dùng cũng ngày một lớn hơn, do vậy tổng quy mô tài trợ của ngân hàng đối với hoạt động cho vay KCHN cũng rất lớn. Mặt khác, lãi suất áp dụng đối với KHCN thường cao nên tiền lãi từ các khoản vay của KHCN sẽ mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng. 12 Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KHCN thúc đẩy các ngân hàng phải quan tâm đến các giải pháp có tính đổi mới sáng tạo như: nắm bắt nhu cầu và hành vi của KHCN để tạo ra những trải nghiệm sản phẩm/ dịch vụ tốt nhất cho KHCN, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật về phân tích dữ liệu, tăng tốc độ chuyển đổi kỹ thuật số, tăng độ phủ, mở rộng các kênh bán hàng hiện đại, các nền tảng bán hàng mới để nắm lấy trái tim của các KHCN, đơn giản hóa các thủ tục, quy trình giấy tờ phức tạp, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng để tăng tính hiệu quả. * Đối với KHCN Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KHCN trước hết là đáp ứng nhu cầu bức thiết và cấp bách của KHCN, thay đổi tư duy tiêu dùng từ “tiêu xài những gì mình có” sang “tiêu xài những gì mình mong muốn”, nhờ đó KHCN có thể được sử dụng các tiện ích theo đúng với nhu cầu của họ trước khi tích lũy đủ số tiền cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng sống của KHCN.
Việc này cũng tạo động lực thúc đẩy KHCN đẩy mạnh việc chi tiêu, góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa tiêu dùng trong nước. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì việc thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của cá nhân đóng vai trò quan trọng đối với tất cả các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển. Bên cạnh đó, lãi suất của ngân hàng vẫn thấp hơn so với lãi suất vay “nóng” ở các thị trường phi chính thức. Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KHCN của các ngân hàng đã từng bước xóa bỏ những tư duy lạc hậu không chú trọng KHCN trước đây, đẩy mạnh việc cho vay thông qua các điều kiện về thời hạn cho vay và phương thức trả nợ linh hoạt, thủ tục vay, thẩm định cũng đơn giản (ví dụ như phỏng vấn qua điện thoại có thể tận dụng được nguồn lực mà không cần phải mở nhiều chi nhánh như trước đây).
* Đối với tổng thể nền kinh tế Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay KHCN đã giúp cho các dòng vốn luân chuyển tốt hơn, tiến tới từng hộ gia đình, từng cá nhân được hưởng lợi, từ đó cải thiện đời sống dân cư, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo so với trước kia chỉ tập trung vào các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn, nhờ đó tạo điều kiện thúc 13 đẩy tăng trưởng kinh tế có tính bền vững và đi sâu về chất lượng tăng trưởng. Người dân được hưởng lợi từ các hoạt động của ngân hàng, được phục vụ tốt hơn, các chính sách an sinh xã hội vì thế được đảm bảo, có như vậy nền kinh tế mới phát triển bền vững. Quản lý dịch vụ cho vay đối với KHCN tại NHTM 1. Khái niệm Quản lý là “điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình theo nhưng luật định, quy tắc tương ứng nhằm để cho hệ thống hay quá trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước.” Ứng dụng khái niệm quản lý vào hoạt động kinh doanh của tổ chức, thì quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nói chung là “hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung.