Phần mở đầu của Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam đã viết: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [Luật DSVH, tr. Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hóa trước hết cần phải hiểu thế nào là văn hóa. Đa số học giả hiện nay cho rằng, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Thống nhất với quan điểm ấy, có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là những sản phẩm sáng tạo đó.
Tuy nhiên, không phải bất cứ sản phẩm nào do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của mình cũng được xem là di sản văn hóa. Từ điển tiếng Việt định nghĩa một trong những khái niệm của di sản là "Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa". tuy nhiên phải những gì có giá trị mới được công nhận là di sản. Luật số 214 ngày 1/7/1975 của Nhật Bản về bảo vệ di sản văn hóa là một minh chứng.
Khái niệm Di sản văn hóa ở đây được hiểu là: Những nhà cửa, các tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc, những tác phẩm nghệ thuật thực dụng, những công trình có khắc chữ, các pho sách cổ điển, những tài liệu cổ và những sản phẩm văn hóa vật thể khác, đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuật cao của đất nước: bao gồm những khu vực đất đai và những vật liệu khác, gắn bó với nhau chặt chẽ và được đóng góp một giá trị tương đương, những mẫu vật khảo 15 e cổ và những hiện vật lịch sử khác có giá trị khoa học được gọi là di sản văn hóa vật chất. Nghệ thuật và kỹ thuật sử dụng trong sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật chất khác, đều cho đất nước một giá trị lịch sử, nghệ thuật được gọi là di sản văn hóa phi vật chất. Những phong tục tập quán về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, những tín ngưỡng, lòng tin tôn giáo, hội hè., những cuộc trình diễn dân gian, cùng y phục, dụng cụ, nhà ở và những đồ dùng khác, trong phạm vi này đều cần thiết cho việc tìm hiểu những thay đổi về đời sống của nhân dân Nhật, gọi là các di sản văn hóa dân gian. Những đồi mộ cổ vỏ sò, vỏ hến, những mộ cổ, những phong cảnh cung điện, những pháo đài, lâu đài, những ngôi nhà lớn và những cảnh quan khác, đều có một giá trị lịch sử khoa học lớn.
Những vườn, cầu, cống, bãi biển, đồi núi và các cảnh quan đẹp khác; những động vật, những cây cỏ và những nguồn địa chất và mỏ đều có một giá trị cao về khoa học được gọi là những công trình lưu niệm. Hay Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Conservation Concerning the protection of the World Cultural and Natural Heritage) của UNESCO năm 1972, những loại hình được coi như là "di sản văn hóa" và "di sản thiên nhiên" đều có đặc điểm chung là "có giá trị nổi tiếng toàn cầu" (".which are of outstanding universal value"). Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di sản văn hóa "bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Đây có thể xem là khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, hoàn toàn tương tự như khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng trên thế giới. Điều đó cũng có nghĩa di sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốc gia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn.
Di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, 16 e truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể: Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Tuy nhiên, sự phân định này thực ra cũng chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản.
Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồn tại nhý là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy. Dù phân loại thế nào chăng nữa, các di sản văn hóa vẫn có những đặc điểm chung. Đó là: - Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc; tính lịch sử với những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng. - Tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không chỉ bản thân di sản mà cả những giá trị phi vật thể đi cùng với chúng cũng được truyền sang thế hệ sau bằng mô phỏng, phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ.
- Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau, dễ dàng bị hư hỏng, bị phỏ huỷ và bị mai một đi do những tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học… Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo và để lại hàng nghìn di tích có giá trị. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng và có nguy cơ mai một vì nhiều nguyên nhân như: sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai, nhận thức chưa đầy đủ 17 e về giá trị của di tích. Vì vậy, vấn đề cấp thiết đang đặt ra là phải hoạch định chiến lược, nhanh chóng xây dựng các chính sách và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích ở Việt Nam nói chung, Quảng Bình núi riêng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó có hoạt động của ngành du lịch. Quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 1.
Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước Quản lý là chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt động thực hiện một công trình và một mục tiêu của hoạt động đã được ý thức hóa của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hay một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý. Hiểu theo nghĩa thông thường thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì, ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định. Căn cứ vào quy mô và tính chất, có thể chia thành: Quản lý vĩ mô và quản lý vi mô.
Quản lý vĩ mô là bao gồm hoạt động quản lý nhà nước nói chung về lĩnh vực, ngành, nghề trong xã hội. Hình thức này là sự tác động mang tính chất quyền lực nhà nước, theo hướng điều tiết và định hướng các nhiệm vụ cơ bản. Quản lý vi mô là những tổ chức cụ thể như một doanh nghiệp, một trường học, một cơ quan nghiên cứu, một nhà hát, một bảo tàng.hình thức này đi sâu vào mục tiêu, nhiệm vụ và môi trường đặc thù của từng tổ chức cụ thể. Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà nước đối với các lĩnh vực trong xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước. ‘‘Quyền lực nhà nước được ghi nhận, cũng cố 18 e bằng pháp luật và được thực thi bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất, tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế”. Quản lý nhà nước được thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước, dạng quản lý này được thực hiện trong các cơ quan nhà nước.
Điều 12, Hiến pháp 199 sửa đổi ,bổ sung 2011;” Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội, không ngừng nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao vai trò quản lý của nhà nước. Quản lý nhà nước góp phần quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế xã hội” bằng pháp luật, nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước”.