Chương 1: Khái quát về hiện tượng mù chữ và tái mù chữ. Chương 2: Kinh nghiệm xóa mù chữ của một số quốc gia trên thế giới. Chương 3: Chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước về công tác xóa mù chữ. Chương 4: Thực trạng mù chữ và tái mù chữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương 5: Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở Việt Nam. Chương 6: Các biện pháp khắc phục tình trạng mù chữ và chống tái mù chữ ở Việt Nam [23]. Xã hội hiện đại đang thay đổi từng ngày, đòi hỏi mỗi người cần liên tục học hỏi, thường xuyên cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng sống và kỹ năng lao động. Đẩy mạnh quá trình xây dựng xã hội học tập là hết sức cần thiết, công tác xóa mù chữ càng cần thiết hơn.
Ngày nay, công tác quản lý dạy học xóa mù chữ được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, tại hội thảo “Đề xuất xây dựng chương trình xóa mù chữ theo chương trình giáo dục phổ thông mới” do Bộ GD&ĐT tổ chức đầu tháng 6/2019 tại hai tỉnh Yên Bái và Đăk Lăk, các ý kiến đều cho rằng cần đổi mới phương pháp quản lý, dạy học và kiểm tra đánh giá trong giáo dục xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, để đáp ứng 10 yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất cho người học. Hiện nay, đối tượng xóa mù chữ chủ yếu là học viên độ tuổi từ 36 đến 60 với đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu, động cơ, điều kiện và khả năng học tập khác biệt. Do đó, cần nghiên cứu biện pháp quản lý dạy học một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay. Những nghiên cứu về quản lý dạy học xóa mù ở vùng đặc biệt khó khăn Theo Đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 - 2015 trên địa bàn Tây Bắc” của nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đăng trên Cổng thông tin của Đại học Quốc gia Hà Nội: Đối với giáo dục xóa mù chữ năm 2012, tỷ lệ biết chữ của thanh niên (15-25 tuổi) với đồng bào dân tộc thiểu số là 73,1%.
Còn chênh lệch giới trong công tác xóa mù chữ cho người lớn từ 15 tuổi trở lên. Thống kê cho thấy việc cải thiện mức độ biết chữ cho thanh niên và người lớn mặc dù đã có tiến bộ nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2020. Một số địa phương công tác xóa mù chữ chưa được cấp chính quyền thực sự quan tâm. Sự chỉ đạo của chính quyền các cấp và ngành giáo dục ở các địa phương đối với công tác xóa mù chữ không còn thực sự ráo riết, quyết liệt như trước năm 2000.
Vì vậy, hiệu quả xóa mù chữ không cao, kết quả xóa mù chữ không bền vững, hiện tượng tái mù chữ gia tăng đáng kể. Tuy tỷ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên có tăng đều từ năm 2002-2012 song số lượng nguời mù chữ từ 15 tuổi trở lên trong mười năm hầu như không thay đổi luôn tồn tại khoảng 7,4 triệu người mù chữ. Trong khi đó tỷ lệ huy động người mù chữ tham gia học xóa mù chữ thấp. Công tác xóa mù chữ triển khai chưa thật sự hiệu quả.
Số người mù chữ hiện nay chủ yếu là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, địa bàn sinh sống… Chế độ, chính sách đối với với giáo viên, cán bộ làm công tác xóa mù chữ và học viên học xóa mù chữ chưa có sự điều chỉnh thích 11 hợp để động viên, khuyến khích người dạy, người học. Công tác điều tra cơ bản số người mù chữ hằng năm của các địa phương chưa được coi trọng. Đội ngũ giáo viên thiếu tính chuyên nghiệp. Chưa đầu tư nghiên cứu, biên soạn các tài liệu dạy và học xóa mù chữ phù hợp với từng vùng miền và đối tượng người học xóa mù chữ.
Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể trong công tác xóa mù chữ ở một số địa phương chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên. Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc về tình hình kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số, tính đến ngày 1/8/2015: Số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết là 7.062 người, đạt 79,8%; tỷ lệ người dân tộc thiểu số có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo, đạt 6,2%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, đi học đúng cấp đạt 70,2% (trong đó: cấp tiểu học 88,9%; cấp trung học cơ sở 72,6 %; cấp trung học phổ thông 32,3 %). Tổng số trường học của các xã vùng dân tộc thiểu số là 17.722 trường (trong đó: mầm non: 5.968; trung học cơ sở: 3.652; trung học phổ thông: 597 và trường ghép hai bậc học tiểu học và trung học cơ sở: 293). Để có được những kết quả trên, nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm ưu tiên cho công tác giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số, như: Chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý và nhà giáo công tác ở vùng dân tộc theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ; Chính sách ưu đãi đối với học sinh dân tộc thiểu số được thực hiện theo Quyết định số 152/2007/QĐ-TTg ngày 14/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về học bổng đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giáo dục với chương trình kiên cố hóa trường, lớp học.
Ngoài ra còn có các Chương trình mục tiêu Quốc gia giáo dục và đào tạo (Dự án Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng có nhiều khó khăn); Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Dự án phát triển giáo dục trung học cơ sở. Trang thiết bị giáo dục cũng được ưu tiên đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số, như trang thiết bị phục vụ giảng 12 dạy và học tập (máy vi tính, dụng cụ thí nghiệm, sách tham khảo.), cấp sách giáo khoa, hỗ trợ học phẩm tối thiểu cho học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn ở vùng dân tộc thiểu số. Đối với loại hình giáo dục đào tạo có tính chất chuyên biệt có chính sách riêng, như chính sách đối với trường phổ thông dân tộc nội trú… Các chính sách đó đã góp phần động viên đội ngũ nhà giáo yên tâm công tác, cống hiến; tạo điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số đến trường, nâng cao chất lượng học tập. Bộ Giáo dục và Đào tạo khảo sát tại một số tỉnh miền núi, qua khảo sát thực tế ở các địa phương cho thấy, chính sách được Chính phủ ban hành thời gian qua đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo thuận lợi cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi phát triển.
Đối với các địa phương vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống, vùng sâu vùng xa, ngành giáo dục đã có nhiều giải pháp để huy động tối đa số trẻ tới trường. Các chính sách về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở vùng dân tộc đã được các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể ở các địa phương vùng đồng bào dân tộc tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Nhờ đó, sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cả nước nói chung, vùng dân tộc thiểu số, miền núi nói riêng được củng cố và phát triển, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện công bằng trong giáo dục. Tuy nhiên, công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số, vì mạng lưới trường, lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.
Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn thiếu về số lượng, năng lực nghề nghiệp của một số giáo viên còn hạn chế; một bộ phận giáo viên đời sống còn khó khăn, chưa yên tâm công tác. Vị trí làm việc, số lượng người làm việc và chế độ, chính sách đối với giáo viên, nhân viên làm việc trong các trường phổ 13 thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, chưa phù hợp với đặc thù công việc. Một số chính sách đối với người dạy, người học ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn hạn chế, bất cập về đối tượng được hưởng, định mức, thời gian hưởng, phương thức hỗ trợ… Chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục ở vùng dân tộc hiện nay chưa khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tâm huyết, cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Chế độ tiền lương và phụ cấp chưa thu hút được giáo viên tình nguyện đến công tác ở vùng dân tộc khó khăn; chế độ chính sách này được thực hiện theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ vẫn có những điểm bất cập đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các thị trấn, thị xã ở các tỉnh vùng cao, miền núi.
Đội ngũ giáo viên miền núi chưa đạt chuẩn theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chiếm một tỷ lệ lớn. Tại một số vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ giáo viên không đạt chuẩn lên tới 50%. Việc triển khai một số chính sách về giáo dục có lúc, có nơi chưa kịp thời, thiếu đồng bộ. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều, phần lớn học sinh dân tộc thiểu số khi vào lớp 1 mới bắt đầu làm quen với tiếng phổ thông nên việc tiếp thu kiến thức vô cùng khó khăn, nhất là môn tiếng Việt.
Đối với học sinh dân tộc thiểu số việc học tiếng phổ thông là học môn “ngoại ngữ”, nhưng đối với giáo viên dạy bậc học này hầu hết đều còn trẻ, tỷ lệ giáo viên là người dân tộc thiểu số ít, chưa có kinh nghiệm tìm hiểu phong tục tập quán, sinh hoạt của đồng bào nên chuyện giao tiếp với phụ huynh, học sinh là một rào cản.