Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Những nghiên cứu trên thế giới tập trung vào một số vấn đề sau đây: - Sự hình thành và phát triển của xu hướng dạy học tiếp cận năng lực Tiếp cận năng lực trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận năng lực là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá trình dạy học, là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” [29] và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI” [30; tr.
- Đặc trưng và ưu thế của dạy học tiếp cận năng lực Theo J. Rodger, “Tiếp cận năng lực trong dạy học tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được” [34]. Khi tổng kết các lý thuyết về tiếp cận dựa trên năng lực trong dạy học và phát triển, K. Paprock [32] đã chỉ ra năm đặc tính cơ bản của tiếp cận này: 1) Tiếp cận năng lực dựa trên triết lý người học là trung tâm; 2) Tiếp cận e 10 năng lực thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; 3) Tiếp cận năng lực là định hướng cuộc sống thật; 4) Tiếp cận năng lực rất linh hoạt và năng động; 5) Những tiêu chuẩn của năng lực được hình thành một cách rõ ràng.
Chính những đặc tính nói trên đã làm cho tiếp cận theo năng lực có những ưu thế nổi bật so với các cách tiếp cận khác trong dạy học. Kerka [29], những ưu thế đó là: 1) Tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mô hình năng lực, người học sẽ bổ sung những thiếu hụt của mình để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể; 2) Tiếp cận năng lực chú trọng vào kết quả (outcomes) đầu ra; 3) Tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; 4) Tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học. Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của những năng lực cần thiết để tạo ra các kết quả này là điểm được các nhà hoạch định chính sách GD&ĐT và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh. - Mô hình năng lực trong dạy học R.
Boyatzid cho rằng phát triển dạy học dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan [28]. Để xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là các kết quả đầu ra (outputs). Từ đó, đi đến xác định vai trò của những người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này. Từ hiểu biết về năng lực như vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình: (1) những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi của cá nhân theo đuổi việc xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được vai trò của mình”; e 11 (2) những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức và kỹ năng theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình; (3) những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”.
Mô hình tiếp cận với sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và thực hành trên thế giới đặc biệt ủng hộ. Khi bàn về mô hình dựa trên năng lực cần chú ý năng lực còn là những đòi hỏi của công việc, nhiệm vụ và các vai trò. Mô hình năng lực được sử dụng rất phổ biến ở cấp vi mô (trong từng đơn vị cụ thể) và ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới trong quá trình tăng cường và phát triển các tổ chức. Mô hình này bao gồm các bước như sau: Xác định tầm nhìn, sứ mạng, và mục tiêu của tổ chức; Xác định các quá trình, hệ thống, thủ tục nội bộ nhằm đạt đến các tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu chiến lược đã được xác định; Xác định các năng lực cần thiết để đạt tới các sứ mạng, mục tiêu đã định; Xác định những thiếu hụt, khoảng trống năng lực và hình thành các kế hoạch phát triển của cá nhân và của tổ chức; Hợp nhất các kế hoạch này thành kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của tổ chức [28].
Cùng với nghiên cứu mô hình năng lực trong dạy học, các tác giả còn xây dựng mô hình năng lực của các nhà quản lý. Morley & Vilkinas đã tổng kết được 16 đặc tính xác định năng lực cho những nhà quản lý trong khu vực công, trong đó có lĩnh vực GD&ĐT, đó là: 1) Tầm nhìn và sứ mạng; 2) Thực hiện; 3) Chiến lược; 4) Quản lý con người; 5) Quan hệ công chúng, cộng đồng; 6) Sự phức tạp; 7) Quan hệ với các quá trình chính trị; 8) Tính trách nhiệm; 9) Thành tựu; 10) Năng lực trí tuệ, tư duy; 11) Các đặc tính cá nhân, đặc biệt là tự quản; 12) Chính sách; 13) Kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân; 14) Thay đổi; 15) Truyền đạt; 16) Quản lý nguồn lực. Từ đó, theo các tác giả này, muốn nâng cao hiệu quả quản lý, bản thân các nhà quản lý phải được phát triển các năng lực đặc trưng cho hoạt động e 12 quản lý. Trên cơ sở các năng lực chung, mỗi lĩnh vực quản lý đòi hỏi những năng lực riêng [31].
Ở Việt Nam Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng to lớn của giáo dục đối với sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của một nước, xem giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu bởi giáo dục tạo nên sự phát triển con người, là điều kiện cơ bản để hình thành, phát triển và hoàn thiện lực lượng sản xuất của xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội phải có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng, chìa khoá cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, đem lại sự phồn thịnh cho đất nước. Trong chiến lược phát triển giáo dục, quá trình dạy học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy có rất nhiều các chuyên gia, nhà giáo, nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Trần Kiều… Dạy học là hoạt động trọng tâm của quá trình giáo dục, có vai trò quyết định sự thành công của hoạt động giáo dục.
Dạy học gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, đó là hai mặt luôn gắn bó mật thiết không thể tách rời của phương thức tồn tại và phát triển của xã hội và cá nhân. Đó là sự tiếp nhận và chuyển hóa những kinh nghiệm đã có của xã hội thành kinh nghiệm của cá nhân hay nói cách khác là sự chuyển giao những kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Quản lý dạy học là quản lý một quá trình xã hội đặc thù, có vai trò quan trọng và cần thiết. Thực tiễn và lý luận về quản lý dạy học được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Việc dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là dạy học Tiếng Anh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang hội nhập vào e 13 khu vực và thế giới. Trong quá trình hòa nhập này, thông thạo ngoại ngữ là điều kiện quyết định. Tiếng Anh là ngoại ngữ thông dụng nhất. Đây là môn học giúp học sinh mở rộng và cập nhật kiến thức khoa học, tiếp cận công nghệ thông tin nhanh nhất.
Chính vì vậy mà nhiệm vụ các trường trung học phổ thông hiện nay là phải cải tiến hoạt động dạy và học tiếng Anh như thế nào để thực sự có hiệu quả. Để thực hiện được điều đó thì vai trò của quản lý là chủ đạo và quyết định. Mỗi môn học có những nét đặc thù riêng đòi hỏi nhà quản lý cần có những hiểu biết về môn học mới có các biện pháp quản lý dạy học môn học đó một cách có hiệu quả. Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu việc giảng dạy ngoại ngữ ở các trung học và vấn đề quản lý giảng dạy ngoại ngữ cũng được đề cập.
Ngày 30 tháng 09 năm 2008, Chính phủ đã ký Quyết định số 1400/QĐ-TTG về việc phê duyệt Đề án: Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020.