Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Dạy học theo TCNL đã và đang là một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay. Tìm hiểu về dạy học theo hướng TCNL học sinh, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố tác động, từ đó có thể đề ra các chiến lược và phương pháp dạy học theo TCNL học sinh trong tình hình giáo dục hiện nay. Qua đó, xây dựng được chương trình dạy học theo hướng TCNL phù hợp được áp dụng rộng rãi trên thế giới, nhất là ở những nước phát triển.
Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động chủ đạo trong nhà trường nói chung và trường Tiểu học nói riêng. Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học và quản lý HĐDH theo hướng TCNL ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề này. Các công trình trên thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong quản lý HĐDH hiện nay. Những nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý dạy học đã xuất hiện từ rất sớm tại nhiều nước trên thế giới.
Comenxki (1592 – 1670), người Slôvakia đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với thiên nhiên. Ông cho rằng quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì. Ông cũng nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là nguyên tắc trực quan, nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS, nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của HS. Thời kỳ sau đó các tác giả phương Tây cũng nêu đồng quan điểm với Comenxki trong quản lý giáo dục như: Rober Owen (1717 - 1858), Chales Baddage (1792 - 1871), F.Taylor (1856 - 1915) người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, John Locke (1632 - 1704) cũng đưa ra nguyên tắc giáo dục là “không được nhồi nhét điều gì vào trí nhớ của trẻ mà vốn chúng không thích thú.
Thầy giáo cần khơi dậy ở trẻ lòng ham mê say sưa, qua đó hướng trẻ 7 đến với tri thức. Phải phát triển khả năng độc lập suy nghĩ và chủ động trong học tập của trẻ”. Rousseau (1712 -1778) cũng cho rằng phải hướng HS tích cực tự giành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo. Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đi sâu nghiên cứu về vai trò và trách nhiệm của đội ngũ CBQL trong việc quản lý HĐDH trong nhà trường.
Xtrezicodin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý của hiệu trưởng như vấn đề công phân nhiệm vụ giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng. Các tác giả đã thống nhất và khẳng định hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác QL nhà trường.Saxerdotop đã đi sâu nghiên cứu công tác lãnh đạo hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong công tác quản lý của hiệu trưởng. Các tác giả đều khẳng định rằng kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý HĐDH của đội ngũ GV. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, việc dạy học chỉ chú trọng đến kiến thức là không đủ do một số kiến thức còn mới hôm nay thì ngày mai đã cũ.
Do đó nhiều hệ thống GD đã hướng tới việc GD để người học có đủ khả năng làm chủ kiến thức, sử dụng kiến thức và phát triển kiến thức trong nghiên cứu để giải quyết các vấn đề trong khoa học cũng như trong thực tế. Các hệ thống GD tiên tiến hiện nay đều đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo hướng TCNL HS thay vì giảng dạy theo nội dung, kiến thức theo phương pháp truyền thống, cũ kỹ. Ngày nay, mục tiêu của GD nói chung và HĐDH nói riêng là đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy, bên cạnh những nhà nghiên cứu về giáo dục, trong thực tiễn đã có nhiều trường quan tâm, nghiên cứu việc quản lý HĐDH để tìm ra biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả nhất cho đơn vị của mình.
Các nền giáo dục hàng đầu thế giới đều cho rằng tính tích cực, chủ động phát huy năng lực của người học sẽ mang đến kết quả, chất lượng cao nhất cho người học. Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS dần được 8 phát triển và hoàn thiện, được nhiều nước trên thế giới vận dụng và có đạt kết quả cao, trong đó có Việt Nam. Những nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam, những năm gần đây dạy học theo hướng TCNL đã và đang trở thành xu thế mới trong đổi mới giáo dục, chuyển mục tiêu giáo dục từ coi trọng truyền thụ kiến thức sang giáo dục nhân cách, phát huy tốt nhất tiềm năng của người học. Vai trò phát triển NL cho học sinh ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Điều này đã được thể hiện qua các văn bản chỉ đạo trong giáo dục, nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới. Cụ thể như sau: Theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 khẳng định: “Thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển NL học sinh, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương”. Theo chương trình giáo dục phổ thông - chương trình tổng thể (2018) đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại”. Theo quan điểm GD của Hồ Chí Minh về PPGD đó là: “Cách học phải 9 nhẹ nhàng, không gò ép học sinh vào khuôn khổ người lớn, phải đặc biệt chú ý đến sức khỏe của các cháu, chú trọng phương pháp bồi dưỡng tự phát huy nội lực, óc tư duy lý luận, tư duy kinh tế, óc phê phán và sáng tạo cho người học” (Nguyễn Văn Quang). Trong thư gửi cho HS nhân ngày khai trường, Bác Hồ đã viết: “Từ giờ phút này trở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam … một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.
Nội dung của bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của PPDH. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý HĐDH, QL đổi mới PPDH như: Nguyễn Cảnh Toàn, Hồ Ngọc Đại, Phan Trọng Luận, Vũ Trọng Rỹ, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Văn Cường, Thái Duy Tuyên, … Đáng lưu ý là công trình nghiên cứu là: PPDH truyền thống và đổi mới của Thái Duy Tuyên, đã nêu rõ: “Đổi mới PPDH lấy học sinh làm trung tâm”. Quan điểm: “Dạy và học lấy học sinh làm trung tâm” (Lê Duy Phong, 2012). Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực (Nguyễn Công Khanh, 2013).
Theo Hồ Ngọc Đại (2010) cho rằng: “Sự khác nhau căn bản giữa nền GD thế kỉ XX với nền GD thế kỉ XXI là sự khác nhau về nguyên lý: thầy giảng bài - trò ghi nhớ và thầy thiết kế - trò thi công. Từ đó ông cho rằng với công thức đầu thì thầy giáo là nhân vật trung tâm, còn công thức sau thì học trò là nhân vật trung tâm”. Theo Đỗ Ngọc Thống (2018), sự khác biệt lớn nhất giữa dạy học giữa dạy học theo nội dung và dạy học phát triển NL cho HS là dạy học theo TCNL là GV sẽ giúp HS rút ra các kết luận, có được hiểu biết, tri thức thông qua tự thực hành và có được hiểu biết, tri thức còn với dạy học theo tiếp cận nội dung GV là người dạy giảng giải cho HS nghe và nhìn là chủ yếu. Theo Trần Thị Hương (2014), HS không chỉ là đối tượng tiếp nhận thụ động tác động của nhà giáo dục, mà HS còn là chủ thể tự giáo dục.
HS tiếp nhận những tác động giáo dục có chọn lọc phù hợp với đặc điểm tâm lý của cá nhân. Theo Đỗ Hương Trà (2016) cho rằng: “Dạy học không phải là tạo ra kiến thức, truyền đạt kiến thức hay chuyển giao kiến thức mà phải làm cho người học 10 học cách đáp ứng hiệu quả các đòi hỏi cơ bản liên quan đến môn học và có khả năng vượt qua ngoài phạm vi môn học để chủ động thích ứng với cuộc sống lao động sau này”. Quản lý HĐDH là QL hoạt động trung tâm của Hiệu trưởng ở nhà trường, đồng thời cũng là hoạt động QL cơ bản, quan trọng nhất trong công tác QL trường học. Vì vậy, các vấn đề quản lý HĐDH luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học.
Có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về HĐDH, QL HĐDH theo TCNL. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về QL HĐDH theo TCNL tại các trường TH thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Chúng tôi sẽ hệ thống hóa, tiếp thu những nghiên cứu trên để đưa ra hệ thống lý luận phù hợp với nghiên cứu của mình. Một số khái niệm 1.
Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan.