phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học theo hướng trải nghiệm và dạy học môn Ngữ văn theo hướng trải nghiệm Trong giáo dục - đào tạo, trải nghiệm là một hệ thống kiến thức, kĩ năng mà con người tích lũy được thông qua các hoạt động dạy học bằng cách tham gia vào thực tiễn.
Đó là những kiến thức không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học, trong nội dung của sách giáo khoa mà con người học được ở bên ngoài phòng học thông qua giao tiếp, thông qua các hoạt động thực tiễn. Như vậy, trải nghiệm là một vòng tuần hoàn giữa kinh nghiệm của con người với thực tiễn khách quan sinh động. Nhưng hơn cả kinh nghiệm, trải nghiệm giúp cho con người hình thành nên khả năng thích nghi để tồn tại và phát triển, hay nói cách khác trải nghiệm để tích lũy các kĩ năng sống, để thu thập kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng mà HS nhận được bên ngoài không gian lớp học thông qua sự giao tiếp với nhau, với mọi người xung quanh và với môi trường thực tiễn. Vậy trải nghiệm là con đường, cách thức làm ra kiến thức từ thực tiễn chứ không đơn thuần là kiến thức có trong sách vở.
David Kolb (sinh năm 1939) là một học giả người Mỹ, được biết đến như một nhà nghiên cứu về lí thuyết GD đã có sự kế thừa và phát triển lí thuyết HĐTN của các tác giả đi trước, “học tập là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biến đổi, chuyển hóa kinh nghiệm”. Đó là quá trình “người học thông qua hành động tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế”. Kolb đưa ra 6 đặc điểm của quá trình học từ trải nghiệm: “Việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm; Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa lí thuyết với thực tiễn cuộc sống; Học tập là một quá trình thích ứng với thực tiễn cuộc sống; Học tập là sự kết nối giữa con người với môi trường; Học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân” [24; tr. Đóng góp lớn nhất của Kolb là đưa ra mô hình học tập trải nghiệm gồm 4 5 giai đoạn.
Quá trình học tập trải nghiệm diễn ra từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 và bắt đầu trở lại ở giai đoạn 1, quá trình học luôn tiếp diễn một cách liên tục và nhịp nhàng trên cơ sở những thành tựu, kết quả đã thu được. Điểm cốt lõi trong lí thuyết học tập trải nghiệm của Kolb là người học cần thiết phải có sự phản ánh, tức là sự trở lại của tư duy trong ý thức, hướng đến các kinh nghiệm của mình, phân tích khái quát hóa chúng thành khái niệm, sau đó đem khái niệm này áp dụng, kiểm nghiệm trong thực tế. hình thành kiến thức, kĩ năng mới trở thành nội dung cho vòng học tập tiếp theo cho đến khi việc học đạt được mục tiêu đề ra. Nói cách khác, học tập trải nghiệm là sự hình thành các kinh nghiệm mới bằng sự tương tác giữa kinh nghiệm đã có với những hiểu biết thu được, nhờ sự phản ánh của chủ thể trong hành động theo một chu trình khép kín.
Năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập trải nghiệm trên, David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến học tập trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, GD, văn hóa,. Trong lĩnh vực GD và đào tạo, có thể kể đến công trình nghiên cứu sau: “Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập trải nghiệm trong GD đại học” (Learning Styles and Learning Spaces: Enhancing Experiential Learning in Higher Education) (2005) của Kolb, KY, Kolb, DA: Các tác giả đã giới thiệu khái niệm về “không gian học tập như là một khuôn khổ cho sự hiểu biết giữa việc học tập của HS và môi trường thực tiễn, minh họa việc học tập trong khuôn khổ sử dụng một không gian nhất định và trình bày các nguyên tắc cho việc tăng cường học tập trải nghiệm trong GD đại học. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề nghị học tập trải nghiệm có thể được áp dụng trong suốt quá trình GD cho các chương trình phát triển, bao gồm: việc đánh giá, việc giảng dạy, việc đào tạo HS, bồi dưỡng giảng viên ở trường đại học” [24]. Vào cuối thế kỉ XX, các tác giả Guy Brauseau, Claude Comiti… của viện đào tạo GV (IUFM) ở Gremnoble (Pháp) đã đưa ra cấu trúc dạy học gồm 4 yếu tố: “người dạy - người học - nội dung - môi trường”.
Trong đó môi trường là yếu tố quan trọng nhất, ở đó GV tạo ra những tình huống dạy học, còn HS dựa trên kinh nghiệm đã có tham gia giải quyết tình huống thực tế để từ đó hình thành tri thức. “Cơ chế tác động giữa vai trò chủ đạo của thầy và sự tương tác kinh nghiệm của trò với môi trường góp phần thúc đẩy hoạt động của trò” [dẫn theo 20]. Cuốn sách “Phương pháp tiếp cận 6 lớp học đồng ruộng” của tổ chức Liên hợp quốc (FAO) năm 2010 đã đề cập đến việc dạy học trên cánh đồng cho người nông dân ở vùng Đông Phi. “Nội dung đề cập đến việc dạy nghề nông nghiệp dựa trên kinh nghiệm của người nông dân.
Lớp học được tổ chức tại nơi làm việc với hình thức nhóm, thảo luận, trao đổi kinh nhiệm để giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của kĩ thuật viên” [dẫn theo 21]. Ngày 27/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức công bố Chương trình giáo dục phổ thông mới bao gồm Chương trình tổng thể và 27 chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng với mục tiêu, nội dung và phương châm giáo dục đề cao tính thực tiễn, thực hành; phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Vì vậy cần lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học sao cho phù hợp với quan điểm nêu trên.
Tác giả Phạm Thị Thu Hương (2014) trong cuốn “Tiếp cận hồi ứng trải nghiệm của bạn đọc HS trong dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông” đã đưa ra mẫu số chung về hoạt động trải nghiệm “đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng” đồng thời “học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm cá nhân” và có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo với các mức độ khác nhau [13]. Trần Quốc Khả (2018) với luận án tiến sĩ “Vận dụng lí thuyết hồi ứng thâm nhập vào dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT”, đã nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo hướng trải nghiệm. Xuất phát từ thực trạng dạy học môn Ngữ văn đã tìm nguyên nhân và từ đó đưa ra giải pháp: Đổi mới về quan điểm dạy học, tiến trình dạy học, CNTT và đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá dạy học môn ngữ văn [15]. Năm 2015, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã có những công trình nghiên cứu: Chương trình Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng phát triển sau 2015; Đổi mới căn bản toàn diện chương trình Ngữ Văn; Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn.
Trong các công trình này, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã nêu ra những quan niệm khoa học về dạy học môn Ngữ văn theo hướng trải nghiệm. Tác giả cũng nêu rõ những mục tiêu chính và quan trọng của đánh giá chất lượng môn Ngữ văn theo hướng trải nghiệm. Có thể thấy, đây là những quan niệm, những đường 7 hướng mang tính khái quát, vĩ mô của việc đổi mới đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ Văn ở THPT [21]. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2017) với công trình “Dạy học môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở theo mô hình trường học mới”.
Tác giả cho rằng, việc tổ chức dạy học môn Ngữ văn cấp THCS theo mô hình trường học mới vừa đảm bảo nội dung và chuẩn của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành, đồng thời có sự đổi mới theo hướng triển khai nội dung bài học theo các hoạt động học tập của học sinh, tăng cường tính tự chủ, sự chia sẻ, hợp tác trong quá trình học nhằm phát triển năng lực người học. Bài viết tập trung nghiên cứu làm rõ: những điểm kế thừa và những điểm mới của tài liệu Hướng dẫn học Ngữ văn THCS; tiến trình tổ chức 5 hoạt động của mô hình theo quan điểm kiến tạo và định hướng phát triển năng lực của học sinh; tính mở và linh hoạt của mô hình [22]. Năm 2014, tác giả Trần Đình Sử đã nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn. Xuất phát từ thực trạng dạy học môn Ngữ văn tác giả Trần Đình Sử đã tìm nguyên nhân và từ đó đưa ra giải pháp: Đổi mới về quan điểm dạy học, tiến trình dạy học, CNTT và đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá (viết và nói) [dẫn theo 21].
Tác giả Vũ Thị Duyên Anh với luận văn “Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học văn xuôi hiện thực” đã đề cập đến dạy học trải nghiệm sáng tạo cho HS thường sử dụng 02 mô hình sau: Mô hình của D.Kolb (1984); Mô hình dạy học trải nghiệm (Betts, S., 1996) nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức thông qua việc quan sát, đóng vai nhân vật, trò chơi vận động, trả lời câu hỏi, nghe một bài hát, thể hiện tài năng qua phần tích hợp môn Âm nhạc, Mỹ thuật. với hình thức trải nghiệm này, HS rất hứng thú với giờ học và chủ động chiếm lĩnh kiến thức trải nghiệm [1]. Tác giả Nguyễn Thị Dung với luận án “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học tiếng việt cho học sinh lớp 4,5”. Tác giả đã Bổ sung lí luận về PPDH Tiếng Việt ở tiểu học qua việc lựa chọn, hệ thống những tri thức quan trọng của HĐTN và đề xuất các yêu cầu, xây dựng quy trình, cách thức tổ chức HĐTN vào thực tiễn DHTV cho HS lớp 4, 5.