Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục tiểu học tại địa bàn miền núi, biên giới luôn đối mặt với những thách thức to lớn về địa hình chia cắt và sự chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh Hà Giang có 10 huyện và 1 thành phố với 193 xã, phường, thị trấn; trong đó có 7 huyện nghèo, 121 xã đặc biệt khó khăn, 34 xã biên giới và là nơi hội tụ của 19 dân tộc anh em cùng chung sống. Năm học 2019-2020, quy mô giáo dục tiểu học tại 7 huyện đặc biệt khó khăn (gồm Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê, Xín Mần và Hoàng Su Phì) có 64.543 học sinh theo học tại 3.017 lớp thuộc 126 trường có cấp tiểu học. Dù tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,8%, tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày mới chỉ đạt 69,71% (tương đương 45.253 học sinh), trong khi vẫn còn 30,29% học sinh (19.253 em) chỉ được học 5 buổi/tuần.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phân tán của 650 điểm trường lẻ (chiếm 72% tổng số điểm trường toàn tỉnh) cùng rào cản ngôn ngữ mẹ đẻ khiến việc tiếp thu kiến thức của học sinh dân tộc thiểu số gặp nhiều trở ngại. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng công tác quản lý và tổ chức dạy học 2 buổi/ngày tại 21 trường tiểu học thuộc 7 huyện vùng khó khăn trong năm học 2019-2020, từ đó đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý mang tính đột phá nhằm đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao tỷ lệ hoàn thành cấp học từ 87,8% lên trên 95%, giảm tỷ lệ lưu ban 4,2% và bảo đảm mục tiêu phát triển giáo dục toàn diện tại vùng sâu, vùng xa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại dựa trên mô hình các chức năng quản lý cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá (mô hình POLC). Quản lý dạy học 2 buổi/ngày được hiểu là chuỗi tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình sư phạm nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục toàn diện, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh tiểu học. Khung pháp lý chủ đạo bao gồm Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, Quyết định số 404/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Theo chuẩn chương trình mới, mô hình dạy học 2 buổi/ngày quy định thời lượng tối đa 7 tiết/ngày (sáng 4 tiết, chiều 3 tiết), mỗi tiết 35 phút, với tổng thời lượng 32-33 tiết/tuần trong 35 tuần thực học. So với chuẩn quốc tế tại các quốc gia như Thái Lan hay Sri Lanka (áp dụng 40 tuần/năm và 1.200 giờ học/năm), việc gia tăng quỹ thời gian học tập tại trường là giải pháp then chốt để học sinh dân tộc thiểu số rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ và tham gia các hoạt động trải nghiệm. Hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh được xây dựng dựa trên Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, chú trọng đánh giá quá trình thông qua nhận xét thường xuyên và đánh giá định kỳ về 5 phẩm chất chủ yếu cùng 10 năng lực cốt lõi.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo phổ cập giáo dục của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang cùng số liệu thống kê năm học 2019-2020 của 7 Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện khó khăn. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát mẫu tại 21 trường tiểu học đại diện cho 7 huyện khó khăn, với sự tham gia của 313 cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng), tổ trưởng chuyên môn và hơn 3.900 giáo viên tiểu học.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát hai tiểu vùng địa lý đặc thù: vùng núi đá phía Bắc (Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê) nơi có khí hậu khắc nghiệt và thiếu nước sinh hoạt, và vùng núi đất phía Tây (Xín Mần, Hoàng Su Phì) với địa hình chia cắt mạnh. Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp: điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc theo thang đo Likert, phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, quan sát giờ dạy thực tế, phân tích hồ sơ quản lý chuyên môn và nghiên cứu trường hợp điển hình tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Na Khê (huyện Yên Minh). Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm, tính điểm trung bình và kiểm định độ lệch chuẩn, bảo đảm độ tin cậy và tính khách quan cho các kết luận khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh toàn cảnh về thực trạng tổ chức và quản lý dạy học 2 buổi/ngày tại 7 huyện đặc biệt khó khăn tỉnh Hà Giang qua các chỉ số cụ thể:

Thứ nhất, quy mô mạng lưới và hình thức tổ chức có sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Toàn bộ 7 huyện có 126 trường với 3.017 lớp học và 64.543 học sinh. Mặc dù 69,71% học sinh (45.253 em) được học 2 buổi/ngày, tỷ lệ học 5 buổi/tuần vẫn chiếm tới 30,29% (19.253 em). Đáng chú ý, toàn vùng tồn tại 394 lớp ghép với 5.238 học sinh, chiếm 13% tổng số lớp toàn vùng và chiếm 29% tổng số lớp tại các điểm trường lẻ, tạo nên rào cản lớn trong việc phân bổ thời lượng dạy học.

Thứ hai, cơ cấu và tỷ lệ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu dạy học cả ngày. Tổng số cán bộ quản lý và giáo viên là 4.208 người (gồm 313 cán bộ quản lý và 3.954 giáo viên). Tỷ lệ giáo viên trên lớp đạt mức bình quân 1,31 giáo viên/lớp, thấp hơn nhiều so với định mức tối thiểu 1,50 giáo viên/lớp theo quy định của mô hình dạy học 2 buổi/ngày. Tình trạng thiếu giáo viên chuyên trách diễn ra nghiêm trọng: toàn bộ 7 huyện chỉ có 33 giáo viên Tin học (chiếm 0,83% đội ngũ) và 83 giáo viên Tiếng Anh (chiếm 2,10%), khiến việc triển khai các môn học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 gặp muôn vàn khó khăn.

Thứ ba, điều kiện cơ sở vật chất và hệ thống bán trú còn nhiều thiếu thốn. Trong tổng số 3.327 phòng học, tỷ lệ phòng kiên cố chỉ đạt 38,71% (1.288 phòng), phòng bán kiên cố chiếm 53,26% (1.772 phòng), phòng tạm chiếm 6,76% (255 phòng) và phòng mượn là 1,26% (42 phòng). Số lượng học sinh ở bán trú tăng mạnh lên 26.860 em trong năm học 2019-2020, tạo áp lực quá tải gay gắt lên hệ thống phòng lưu trú, nhà ăn và công trình vệ sinh tại 64 trường phổ thông dân tộc bán trú.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình hiểm trở và đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn, khiến công tác xã hội hóa giáo dục bị hạn chế. Khác với các nghiên cứu tại vùng đồng bằng và đô thị lớn – nơi tỷ lệ học 2 buổi/ngày đạt trên 95% nhờ cơ sở vật chất kiên cố và nguồn tuyển giáo viên dồi dào – các trường tiểu học tại 7 huyện nghèo Hà Giang phụ thuộc gần như 100% vào nguồn ngân sách nhà nước. Rào cản tiếng mẹ đẻ của học sinh 19 dân tộc thiểu số khiến việc học 1 buổi/ngày (5 buổi/tuần) không thể bù đắp được sự thiếu hụt ngôn ngữ, dẫn đến tỷ lệ học sinh lưu ban 4,2%.

Dữ liệu nghiên cứu thực trạng có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ phòng học kiên cố, bán kiên cố và phòng tạm giữa các địa phương, làm nổi bật khoảng cách giữa huyện Quản Bạ (50,0% phòng kiên cố) với huyện Mèo Vạc (chỉ đạt 30,81% phòng kiên cố). Đồng thời, bảng tổng hợp quy mô học sinh bán trú giai đoạn 2017-2020 cho thấy mức tăng trưởng từ 19.370 em lên 26.860 em (tăng 38,6%), khẳng định xu thế tất yếu của việc chuyển dịch học sinh từ điểm trường lẻ về trường chính để tổ chức dạy học bán trú 2 buổi/ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các rào cản thực tiễn, luận văn đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý có tính khả thi cao:

Một là, tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho 100% cán bộ quản lý và giáo viên. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang chủ trì phối hợp với các trường đại học sư phạm tổ chức tập huấn về phương pháp dạy học tích cực (phương pháp Bàn tay nặn bột, dạy học theo dự án, Mỹ thuật Đan Mạch) và quy trình đánh giá học sinh theo Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT trong giai đoạn 2020-2023.

Hai là, quy hoạch lại mạng lưới trường lớp và kiên quyết dồn dịch điểm trường lẻ về trường chính. Ủy ban nhân dân các huyện cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch giai đoạn 2020-2025 giảm 15-20% số điểm trường lẻ (trong tổng số 650 điểm trường hiện có), nâng tỷ lệ phòng học kiên cố từ 38,71% lên trên 65%, đồng thời đầu tư mở rộng phòng ở cho hơn 26.000 học sinh bán trú.

Ba là, chỉ đạo xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường linh hoạt, khoa học. Hiệu trưởng các cơ sở giáo dục chủ động thiết kế thời khóa biểu dạy học 2 buổi/ngày với thời lượng tối đa 7 tiết/ngày (32-33 tiết/tuần); ưu tiên bố trí các môn Toán, Tiếng Việt vào buổi sáng và dành trọn buổi chiều cho hoạt động ôn tập, phụ đạo, rèn kỹ năng sống và giáo dục truyền thống văn hóa địa phương.

Bốn là, chỉ đạo kiến tạo môi trường tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm duy trì tối thiểu 1 tiết/tuần chuyên biệt về tăng cường tiếng Việt trước khi vào lớp 1, xây dựng góc thư viện thân thiện và tổ chức các câu lạc bộ giao tiếp tiếng Việt trong 100% các khung giờ sinh hoạt bán trú.

Năm là, tăng cường kiểm tra, đánh giá và hoàn thiện chính sách hỗ trợ đội ngũ. Phòng Giáo dục và Đào tạo duy trì kiểm tra định kỳ 2 lần/năm học kết hợp kiểm tra đột xuất; đồng thời kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh có chính sách hỗ trợ kinh phí, nhà công vụ nhằm thu hút giáo viên Ngoại ngữ, Tin học về công tác tại các xã vùng biên giới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý tại Sở Giáo dục và Đào tạo và Phòng Giáo dục và Đào tạo: Luận văn cung cấp căn cứ thực chứng và hệ thống số liệu chi tiết từ 7 huyện miền núi khó khăn để xây dựng đề án phát triển giáo dục, quy hoạch mạng lưới trường lớp và bố trí định ngạch biên chế giáo viên cho giai đoạn 2020-2025.

Ban Giám hiệu các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc bán trú: Tài liệu đóng vai trò là sổ tay hướng dẫn thực hành 4 bước quản lý: lập kế hoạch nhà trường, phân công thời khóa biểu 2 buổi/ngày, quản lý học sinh bán trú và tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.

Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Luận văn mang lại các chỉ dẫn sư phạm thiết thực về kỹ thuật dạy học tích cực, phương pháp dạy học lớp ghép và các giải pháp tăng cường vốn tiếng Việt cho học sinh lớp 1.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý giáo dục: Đề tài là nguồn tư liệu học thuật phong phú, cung cấp bộ công cụ điều tra thực địa, phương pháp xử lý số liệu toán học và mô hình phân tích điển hình đối với giáo dục vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tổ chức dạy học 2 buổi/ngày là yêu cầu bắt buộc đối với giáo dục tiểu học vùng khó khăn tỉnh Hà Giang? Dạy học 2 buổi/ngày giúp gia tăng thời lượng giao tiếp bằng tiếng Việt, xóa bỏ rào cản ngôn ngữ cho học sinh 19 dân tộc thiểu số. Khi được học tối đa 7 tiết/ngày thay vì 5 buổi/tuần, các em có đủ thời gian củng cố kiến thức môn Toán, Tiếng Việt và giảm tỷ lệ lưu ban 4,2%.

  2. Đâu là khó khăn lớn nhất về nhân sự khi triển khai dạy 2 buổi/ngày tại 7 huyện khó khăn? Khó khăn lớn nhất là định mức giáo viên mới chỉ đạt 1,31 giáo viên/lớp (chưa đạt chuẩn 1,50) và tình trạng khan hiếm giáo viên đặc thù. Toàn vùng 3.017 lớp chỉ có 33 giáo viên Tin học và 83 giáo viên Tiếng Anh, gây trở ngại lớn cho việc thực hiện chương trình mới.

  3. Giải pháp nào giải quyết căn cơ tình trạng 650 điểm trường lẻ và 394 lớp ghép? Giải pháp cốt lõi là sáp nhập các điểm trường có dưới 15 học sinh về trường chính và phát triển mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú. Biện pháp này giúp tập trung nguồn lực đầu tư phòng học kiên cố và tạo điều kiện cho học sinh được học đầy đủ các môn chuyên biệt.

  4. Thời lượng và kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày được phân bổ như thế nào trong tuần? Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, thời lượng học tập gồm 9 buổi/tuần với 32-33 tiết/tuần, mỗi ngày không quá 7 tiết (sáng 4 tiết, chiều 3 tiết), mỗi tiết 35 phút, kết hợp hài hòa giữa học văn hóa buổi sáng và hoạt động trải nghiệm, bồi dưỡng buổi chiều.

  5. Việc đánh giá học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số cần chú trọng những điểm gì? Cần thực hiện nghiêm túc Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT, coi trọng đánh giá thường xuyên vì sự tiến bộ của người học, kết hợp quan sát hành vi, nhận xét sản phẩm học tập, không tạo áp lực điểm số và kiên quyết không để học sinh ngồi nhầm lớp.

Kết luận

  • Công trình khẳng định tính cấp thiết của việc đổi mới công tác quản lý dạy học 2 buổi/ngày, xem đây là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Hà Giang.
  • Nghiên cứu đã lượng hóa toàn diện thực trạng tại 7 huyện nghèo với 126 trường và 64.543 học sinh, chỉ ra các điểm nghẽn về tỷ lệ 1,31 giáo viên/lớp, thiếu hụt 33 giáo viên Tin học và tồn tại 650 điểm trường lẻ.
  • Hệ thống 5 biện pháp quản lý do tác giả đề xuất bảo đảm tính khoa học, kế thừa và khả thi cao, gắn liền với việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là hoàn thiện mô hình kết hợp chặt chẽ giữa quản lý dạy học 2 buổi/ngày và quản lý nuôi dưỡng học sinh bán trú vùng cao.
  • Các cấp quản lý giáo dục cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các giải pháp theo lộ trình 2020-2025, tập trung nguồn lực kiên cố hóa trường lớp và hoàn thiện chính sách hỗ trợ để bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận giáo dục chất lượng cao cho trẻ em dân tộc thiểu số.