Chương 1. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG, XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG ĐỂ HỖ TRỢ CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ VÀ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài a.
Những nghiên cứu khoa học nói chung Khoa học theo nghĩa rộng đã tồn tại trước kỷ nguyên hiện đại và trong nhiều nền văn minh cổ, nhưng khoa học hiện đại đánh dấu một bước phát triển vượt bậc khác biệt rất xa trong cách tiếp cận của nó so với thời kỳ trước đó. Những thành công từ những kết quả mà nó mang lại đã làm cho định nghĩa khoa học theo nghĩa chặt chẽ hơn thì nó gắn liền với giai đoạn hiện nay. Từ trước kỷ nguyên hiện đại rất lâu, cũng có một bước chuyển biến quan trong khác đó là sự phát triển triết học tự nhiên cổ đại trong thế giới nói tiếng Hy Lạp cổ. Khoa học theo nghĩa nguyên thủy của nó là từ chỉ kiến thức hơn là từ chỉ việc theo đuổi kiến thức.
Đặc biệt, nó là loại kiến thức mà con người có thể giao tiếp và chia sẻ với nhau. Ví dụ: như kiến thức về sự vận động của những vật trong tự nhiên đã được thu thập trong thời gian dài trước khi được chép thành lịch sử và dẫn đến sự phát triển tư duy trừu tượng phức tạp, như được thể hiện qua công trình xây dựng các loại lịch phức tạp, các kỹ thuật chế biến thực vật có độc để có thể ăn được, và các công trình xây dựng như các kim tự tháp. Tuy nhiên, không có sự phân định rõ ràng giữa kiến thức về những điều thực tế đã diễn ra trong mỗi cộng đồng và các kiểu kiến thức chung khác như thần thoại hoặc truyền thuyết. Sau Bacon, René Descartes (1596 -1650), ông tổ của tư tưởng cận đại, đề ra yêu cầu: nhờ vào sự trợ giúp của khoa học và kỹ thuật, con người phải và có thể trở thành “chủ nhân và chủ sở hữu của thiên nhiên”.
Bacon và Descartes, về căn bản, chỉ xác định bản chất của hoạt động khoa học và hành động kỹ thuật. Mục tiêu bản chất của kỹ thuật tất yếu hướng đến sự thống trị: cần phải buộc thiên nhiên (và tất nhiên cả con người) chấp nhận tuân theo những quá trình không tự nguyện. Luan van 6 Việc thống trị thiên nhiên bằng khoa học - kỹ thuật bao gồm ba thành tố hay ba cấp độ: khách quan hoá thiên nhiên thành đối tượng của sự quan sát và lý thuyết; giải thích những hiện tượng của nó dựa vào nguyên tắc nhân quả; làm chủ tiến trình vận động của chúng bằng sự can thiệp kỹ thuật có mục đích. Việc khách quan hoá đòi hỏi phải thay thế những cách tiếp cận theo kiểu xúc cảm, đồng nhất hoá hay mô phỏng bằng lối khác: lý tính, sự thông báo rành mạch cho mọi người cùng hiểu và khả năng kiểm tra, lặp lại của người khác.
Việc giải thích nhân quả đòi hỏi phải lược bỏ tính cá biệt cụ thể của những đối tượng tự nhiên để có thể quy chúng về những nguyên tắc tác động phổ biến. Sau cùng, sự làm chủ về kỹ thuật không chỉ biến thiên nhiên thành đối tượng mà còn thành những sự vật. Sự vật thì được công cụ hoá và – ít ra trong quá trình can thiệp kỹ thuật – trở thành phương tiện đơn thuần. Karl Popper, có cái nhìn khác về sự tiến bộ của khoa học.
Theo ông, thay vì dựa theo phép quy nạp truyền thống (quan sát sự kiện, đề ra giả thuyết để giải thích rồi tổng quát hoá thành định luật), nhà khoa học bắt đầu bằng việc đề ra các giả thuyết (Hay các phỏng định) khác nhau, rồi cố gắng kiểm sai chúng sau khi diễn dịch ra những tiên đoán, những quan sát và những đo đạc, tính toán… Nếu sự phỏng định ấy bị kiểm sai, nó sẽ bị bác bỏ và nhà khoa học đi tìm các giả thuyết khác. Bao lâu chưa bị kinh nghiệm kiểm sai và bác bỏ, nó là một phỏng định chưa bị đánh bại, và được thừa nhận rộng rãi. Khoa học tiến lên bằng cách tích hợp ngày càng nhiều những phỏng định đã đứng vững được trước thử thách và, trong thực tế, là lịch sử của một chuỗi phỏng định và bác bỏ. Popper chỉ mới cho biết nhà khoa học đạt được tri thức phản chứng, tức tri thức về những gì không đúng sự thật, như thế nào, nhưng lại không cho biết rõ về tiến trình thu hoạch tri thức tích cực, đúng sự thật, chẳng hạn làm sao biết được rằng mọi vật thể đều đứng yên hoặc sẽ vận động đều theo đường thẳng nếu không có lực tác động nào khác (Định luật thứ nhất của Newton, 1967).
Nhận định phê phán có sức nặng hơn cả đến từ Thomas Kuhn (1922 - 1996), một môn đệ của Popper. Theo Kuhn, hầu hết mọi lý thuyết đều không hoàn chỉnh và đều có thể bị kiểm sai, trong trường hợp đó, chẳng lẽ tất cả chúng đều bị vứt bỏ hết ? Sự thật không đơn giản như thế! Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học, hiếm Luan van 7 khi chỉ vì bị kiểm sai trong một số ít trường hợp mà một lý thuyết bị vứt bỏ. Trái lại, khi một lý thuyết bị kiểm sai, không phải người ta lập tức đi tìm một giả thuyết khác, mà thường xem xét lý do tại sao nó lại bị kiểm sai. Một khi biết rõ lý do, người ta tìm cách điều chỉnh hoặc tìm những giải pháp gần gũi nhất để thay thế và cuối cùng mới đi đến chỗ vứt bỏ toàn bộ đề án hay cương lĩnh nghiên cứu.
Thế nhưng, theo Kuhn, để làm như thế, nhà khoa học lại cần phải biết loại lý thuyết nào có thể phù hợp với sự kiện hơn, so với lý thuyết đã bị kiểm sai. Việc biết ấy đòi hỏi sự kết hợp giữa thủ tục kiểm đúng lẫn kiểm sai hơn là thủ tục kiểm sai đơn độc. “Thông thường, nhà khoa học không muốn và không cần trở thành triết gia. Họ sẽ đến với triết học mỗi khi lâm vào khủng hoảng”.
Thomas Kuhn đặt khoa học trong diễn trình phát triển năng động hơn là trong một sơ đồ tĩnh tại. Chính kích thước lịch sử của khoa học giúp con người đến gần hơn với thực tiễn nghiên cứu, nhất là để có thể giải thích được những khủng hoảng và đột biến trong diễn trình ấy. Theo từ điển Wikipedia, khoa học là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng.
Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa. Nghiên cứu về khám phá khoa học Những nhà khoa học giáo dục ở phương Tây ngày càng nhận thức rõ hơn về những học thuyết, quan điểm trong đó đứa trẻ phát triển hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên.
Những xuất bản của Driver (1983) và Osborne cùng Freyberg (1985) đã khuyến khích trẻ khám phá thử nghiệm những gì liên quan đến “khoa học dành cho trẻ nhỏ”. Tuy nhiên nó vẫn chưa phải là một chỉ báo về tiềm năng tự nhiên của Luan van 8 trẻ trong việc thử lĩnh hội những khám phá khoa học của chúng. Ở một khía cạnh khác, Metz (1995) lại đưa ra tranh luận rằng điều đó phù hợp với những gì chúng ta biết về trẻ nhỏ nhằm hỗ trợ những nỗ lực của trẻ khi xây dựng lý thuyết thông qua việc xác thực khoa học phù hợp. Những nghiên cứu về môi trường giáo dục trẻ Nhà giáo dục J.Coommenki (1592- 1679) đòi hỏi giáo viên tạo cho học sinh môi trường hứng thú học tập và tự lực cố gắng dành lấy kiến thức.
Ông thường bồi dưỡng cho học sinh tư tưởng độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và ứng dụng thực tiễn.Ruxô (1712- 1778) là người đi tiên phong cho tư tưởng dạy học phát triển. Ông tôn trọng cái vố có trong gia tài thể chất và tinh thần của trẻ em, Ông cho rằng người thầy giáo phải dựa vào sự phát triển của học sinh mà giảng dạy “ Để giúp cho thiên tính của các em nảy nở”. Ông phân phối sự bao biện, làm thay, làm cho cá tính và tố chất cá nhân học sinh bị tổn thương, Ông nói: “ Cái chính thức có thể đưa đến sự thành công trong giáo dục, đó là sự tự do đã được điều chỉnh cẩn thận”. Giáo sư Gary Moore Khoa Kiến trúc Đại học Sydney cho rằng: Trẻ nhỏ học thông qua sự tương tác với môi trường vật chất xung quanh chúng.
Các nghiên cứu của ông cũng xác nhận rằng không gian hạn chế và không gian tổ chức kém sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em. Cũng theo Moore, thiết kế và bố trí của các môi trường vật lý; bao gồm hoàn thiện nội thất, không gian ngoài trời, lựa chọn thiết bị, và sắp xếp phòng; có tác động sâu sắc đến việc học tập và hành vi của trẻ đặc biệt là khả năng “ Làm người”. Một môi trường có hiệu quả hỗ trợ cho trẻ em tương tác với không gian, vật liệu và những người xung quanh. Khi mà môi trường được thiết kế đúng cách, trẻ em có tự do để di chuyển về một cách an toàn.
Từ đó, người lớn có thể tập trung vào việc phát triển hoạt động của trẻ, quan sát trẻ em, và đáp ứng các nhu cầu cá nhân của chúng. Môi trường có hiệu quả giúp trẻ em cảm thấy được mời gọi và chào mừng đến khám phá và học hỏi. Montessori nhấn mạnh “ Môi trường giáo dục giống như Đầu não của nhân loại, nó là phần quy định cho sự phát triển toàn diện con người”. Theo Bà, mục đích của giáo dục có hai phương diện một là giúp cá thể phát triển tự nhiên và Luan van 9 hai là để cho mỗi cá thể thích ứng hòa nhập vào môi trường.
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là kết hợp được hai phương diện trên, làm cho mỗi cá thể - trẻ em được phát triển tự do, chủ động trong một môi trường mang tính chuẩn bị.