Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm liên quan đến tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Dân tộc thiểu số Theo nghĩa rộng, trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn, dưới sự quản lý của nhà nước, dân tộc gồm cộng đồng người dân sinh sống; trong một dân tộc có thể có nhiều tộc người với những đặc điểm riêng về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán.
Dân tộc thiểu số có thể hiểu là có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên cùng phạm vi lãnh thổ. Ở Việt Nam, do chiếm tỷ lệ lớn, dân tộc Kinh được coi là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại số lượng ít hơn so với dân tộc Kinh nên được xếp vào DTTS. Như vậy, DTTS được hiểu là trong một quốc gia gồm nhiều dân tộc khác nhau thì DTTS có số dân chiếm số lượng nhỏ hoặc rất nhỏ so với tổng số người dân cả nước hoặc so với một hoặc nhiều các dân tộc chiếm số lượng lớn của đất nước. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số - Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật: Trong tiếng Việt, “tổ chức” có thể là danh từ, động từ.
Ở góc độ danh từ, tổ chức như là một thực thể xã hội, với những chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy, cơ sở hạ tầng v. và đang hoạt động. Ở góc độ động từ, tổ chức gồm tập hợp những hoạt động được chuẩn bị và thực hiện thông qua tổ chức (danh từ) trong một thời gian nhất định nhằm hoàn thiện một mục tiêu nào đó. Phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép hai từ PBPL và GDPL.
Theo nghĩa hẹp, PB, GDPL là hoạt động tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao tri 6 thức, tình cảm, niềm tin pháp luật, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Theo nghĩa rộng: PBGDPL là tổng hợp các công đoạn phục vụ cho công tác PBGDPL: Định hướng; Lập chương trình, kế hoạch; Áp dụng các hình thức PBGDPL; Triển khai chương trình kế hoạch; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm… Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: TCPBGDPL (tổ chức là động từ) là quá trình hoạt động có định hướng, mục đích, kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể thực hiện hoạt động PBGDPL, tác động đến đối tượng tiếp nhận PBGDPL nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức, trình độ hiểu biết về pháp luật; trên cơ sở đó xây dựng thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật. - Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số: Trên cơ sở khái niệm chung về TCPBGDPL, đồng thời, có tính đến những yếu tố đặc thù của đối tượng ĐBDTTS, có thể hiểu: TCPBGDPL cho ĐBDTTS là quá trình thực hiện các hoạt động có định hướng, mục đích, kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể thực hiện hoạt động PBGDPL, tác động đến đối tượng tiếp nhận PBGDPL là ĐBDTTS, nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức, trình độ hiểu biết về pháp luật; trên cơ sở đó xây dựng thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật. Đặc điểm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1.
Những đặc điểm chung TCPBGDPL cho ĐBDTTS trước hết có những đặc điểm của TCPBGDPL nói chung, cụ thể: Một là, TCPBGDPL là quá trình thực hiện các hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm hình thành ở đối tượng PBGDPL những tri thức hiểu biết về pháp luật, tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực phù hợp với pháp luật. Thông qua PBGDPL nhằm giúp các đối tượng hiểu được những hành vi được 7 làm, không được làm, quyền và nghĩa vụ cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Hai là, chủ thể PBGDPL cho đối tượng được PBGDPL bảo đảm những nguyên tắc, yêu cầu, với nội dung, hình thức phù hợp. Ba là, PBGDPL là hoạt động thường xuyên, lâu dài, đặt trong mối quan hệ giáo dục toàn diện các tri thức pháp luật trong đời sống xã hội; có định hướng của Nhà nước.
Bốn là, năng lực, trình độ, các yếu tố khác của chủ thể và đối tượng được PBGDPL ảnh hưởng đến quá trình, hiệu quả tiếp thu tri thức, hiểu biết pháp luật của đối tượng PBGDPL. Những đặc điểm riêng Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, TCPBGDPL cho ĐBDTTS có thêm những đặc điểm riêng, bao gồm: Một là, về đối tượng, ĐBDTTS gồm hai nhóm người cụ thể: nhóm có khả năng hiểu, đọc, viết chữ phổ thông và nhóm chỉ có thể nghe, nói tiếng của dân tộc họ. Với nhóm đối tượng thứ nhất, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, họ là đối tượng được PBGDPL và cũng có thể là chủ thể PBGDPL hoặc phiên dịch, hỗ trợ cho chủ thể PBGDPL. Với nhóm đối tượng thứ hai, yêu cầu đặt ra công tác PBGDPL cho ĐBDTTS không chỉ đơn thuần là một hoạt động truyền tải thông thường, mà còn là một quá trình kiên trì bền bỉ của các chủ thể PBGDPL.
Đặc điểm này sẽ quy định, tác động đến trình độ nhận thức của đối tượng khi tiếp nhận các kiến thức pháp luật. Cụ thể đối với nhóm đối tượng thứ nhất, khả năng nắm bắt, vận dụng trong chấp hành pháp luật sẽ cao hơn; ngược lại nhóm đối tượng thứ hai việc PBGDPL cho sẽ bị hạn chế. Hai là, về chủ thể, TCPBGDPL cho ĐBDTTS luôn gắn với vai trò quan trọng của trưởng buôn, trưởng thôn, người có uy tín trong dòng họ, trong cộng đồng. Trong thực tiễn cuộc sống, những người có uy tín, hiểu biết về văn hóa của đồng bào rất được đồng bào nể trọng; tiếng nói của họ có tầm ảnh hưởng rất lớn.
Những 8 đối tượng này là chủ thể quan trọng cần được quan tâm để tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia các buổi PBGDPL. Đồng thời khi họ được bồi dưỡng, tập huấn sẽ là lực lượng quan trọng, có nhiều ưu thế vì vừa được trang bị kiến thức pháp luật, vừa nói được tiếng, am hiểu phong tục tập quán của đồng bào. Ba là, nội dung, hình thức TCPBGDPL cần được lựa chọn và sử dụng phù hợp. Quá trình TCPBGDPL cho ĐBDTTS phải xem xét đến các yếu tố phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, tiếng nói và chữ viết riêng.
Các phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa làm hình thành những thói quen ứng xử, thậm chí điều chỉnh những quan hệ xã hội, đặc biệt là đời sống dân sự. Những yếu tố này khi am hiểu sẽ xây dựng được nội dung sát thực, hình thức sinh động, dễ hiểu, huy động được đông đảo đồng bào tham gia. Vai trò của tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số Thứ nhất, đối với nhà nước, TCPBGDPL cho ĐBDTTS là phương thức để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất trong chấp hành pháp luật. Thứ hai, TCPBGDPL cho ĐBDTTS là giải pháp bền vững để bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trong đời sống xã hội, khi ĐBDTTS có hiểu biết pháp luật sẽ hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội. Thứ ba, TCPBGDPL cho ĐBDTTS góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mọi công dân Việt Nam đều phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện cho công dân lao động, học tập và phát triển kinh tế theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, đối với ĐBDTTS, thông qua TCPBGDPL, ĐBDTTS được trang bị kiến thức, có nhận thức hiểu biết về tri thức pháp luật, lòng tin, tình cảm đối với pháp luật càng nâng lên khi họ hiểu rằng thực hiện pháp luật không chỉ có nghĩa vụ và trách nhiệm, mà còn là quyền lợi. Từ đó sẽ giáo dục cho họ ý thức pháp luật. Với những hình thức, phương thức phù hợp, về tận cơ sở, PBGDPL sẽ 9 có những ưu thế để giải thích, phân tích cho ĐBDTTS hiểu được rằng pháp luật không chỉ bao gồm các quy định, thực thi pháp luật, biện pháp giải quyết tranh chấp, cưỡng chế, mà pháp luật còn bao gồm các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khuyến khích sự giao dịch lành mạnh giữa các thành viên trong xã hội vì sự phát triển và bảo đảm trật tự ổn định. Nguyên tắc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho ĐBDTTS trước hết phải tuân thủ những nguyên tắc chung theo quy định về các nguyên tắc PBGDPL đã được nêu rõ tại Điều 5 của Luật PBGDPL được ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2012.
Những nguyên tắc đó là: Chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực; Kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm; Đa dạng các hình thức PBGDPL; Gắn với việc thi hành pháp luật; Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân [12]. Bên cạnh đó, xuất phát từ những đặc điểm, tính chất đặc thù, TCPBGDPL cho ĐBDTTS cần lưu ý thêm một số nguyên tắc: Một là, khi TCPBGDPL cho ĐBDTTS cần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Theo đó, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc; chú trọng nắm bắt dư luận xã hội và định hướng tuyên truyền vùng ĐBDTTS. Hai là, cần lựa chọn, sử dụng các hình thức PBGDPL phải phù hợp.
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn đối tượng ĐBDTTS rất đa dạng về lứa tuổi, trình độ, thành phần dân tộc khác nhau, có những đặc trưng về truyền thống văn hóa. Do vậy, để TCPBGDPL một cách hiệu quả phải lồng ghép, khai thác phù hợp đặc điểm, những giá trị văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của từng dân tộc, từng vùng miền; phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng. Ba là, TCPBGDPL phải gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của ĐBDTTS. Nâng cao nhận thức pháp luật của đồng bào có tác động rất lớn đến việc hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu và hiệu quả của các chương trình, dự án.