Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm giảm nghèo 1. Khái niệm nghèo Nghèo là một hiện tượng mang tính kinh tế - xã hội, tác động đến sự phát triển của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới.
Không có một định nghĩa chung về nghèo, khái niệm “nghèo” dùng để chỉ tình trạng của một nhóm người trong xã hội không có khả năng được hưởng “một cái gì đó” ở mức độ tối thiểu cần thiết, tuy nhiên quan niệm “nghèo” mang tính chất tương đối bởi vì nó phụ thuộc vào điều kiện không gian, địa lý, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương và của từng quốc gia. Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bang Kok (Thái Lan) tháng 3/1993, đưa ra khái niệm: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”[6]. Theo Ngân hàng thế giới (2004): “Nghèo là khái niệm đa chiều và vượt khỏi phạm vi túng thiếu của vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe và giáo dục, khả năng dễ tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực” [8].
Theo báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004, định nghĩa nghèo được đưa ra như sau: “Nghèo là tình trạng thiếu thốn nhiều phương diện, thu nhập hạn 10 chế hoặc thiếu cơ hội tạo ra thu nhập, thiếu tài sản đảm bảo tiêu dùng trong lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít khả năng truyền đạt nhu cầu về những khó khăn đến những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng” [9]. Nghị Quyết số 80/NQ-CP, ngày 19/5/2011 của Chính phủ thì giảm nghèo bền vững là trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 nhằm cải thiện điều kiện sống của người nghèo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư với mục tiêu cụ thể là: thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở, người nghèo tiếp cận thuận lợi hơn các dịch vụ cơ bản; cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo được tập trung đầu tư đồng bộ theo các tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, nước sinh hoạt. Tuy nhiên, tập trung nhất vào khái niệm là do Bộ LĐTB&XH ban hành, cụ thể như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên các phương diện” [6]. Vì vậy, nghèo có thể được coi là tình trạng của một bộ phận dân cư vì lý do nào đó mà không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó.
Biểu hiện qua tình trạng thiếu ăn, thiếu nước sinh hoạt, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, tuổi thọ trung bình thấp, bị hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo 11 Chuẩn nghèo là thước đo để xác định ai là người nghèo nhằm thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của Nhà nước, bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo. Ở Việt Nam, từ một Quốc gia có thu nhập thấp sang Quốc gia có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá tiêu chuẩn nghèo có sự thay đổi để phù hợp với tiêu chuẩn nghèo của thế giới. Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà Bộ LĐTT&XH đã công bố các tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo [6].
Những năm 1993-2000, chuẩn nghèo được quy đổi bằng gạo ở mức dưới 20- 25kg gạo; giai đoạn 2000 – 2015, cách đo lường và đánh giá nghèo thông qua thu nhập (giai đoạn 2001-2005: mức thu nhập dưới 150.000 đồng; giai đoạn 2006- 2010: mức thu nhập dưới 260.000 đồng; giai đoạn 2011-2015: mức thu nhập dưới 500. Chính phủ quy định chuẩn nghèo dựa theo mức chi tiêu đáp ứng các nhu cầu tối thiểu và được quy đổi thành tiền. Nếu người có thu nhập dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Thực tế, có nhiều hộ tuy thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm ở cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo là rất lớn, tỷ lệ tái nghèo cao.
Thực hiện cam kết với Cộng đồng Quốc tế về xóa bỏ tình trạng nghèo, không để bất cứ ai bị bỏ lại phía sau. Ngày 15/9/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020”[24]. Theo đó, chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 và giai đoạn 2021 – 2025 của Việt Nam được xây dựng theo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và thiếu hụt mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế (BHYT), trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện 12 tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông và tài sản phục vụ tiếp cận thông tin (có phụ lục 1 chi tiết kèm theo).
Khái niệm giảm nghèo bền vững Vào năm 2008, cụm từ "giảm nghèo bền vững" được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam (tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo)[22]. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có khái niệm hay định nghĩa chính thức nào về GNBV. Giảm nghèo bền vững là không để tái nghèo, duy trì các nguồn lực, nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo thực hiện triển khai liên tục có hướng đích, có mục tiêu để hạn chế tối đa đói nghèo quay trở lại chính nơi đang tích cực thực hiện quyết tâm giảm nghèo. Thực hiện GNBV là điều kiện tiền đề quan trọng giúp đất nước hội nhập và phát triển.
Tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao dân trí, đẩy mạnh mọi mặt an sinh xã hội, nhân dân được đảm bảo phúc lợi và hưởng thụ đời sống văn hoá tinh thần mọi mặt đầy đủ hơn. Theo các chuyên gia, sự nghiệp giảm nghèo không hề đơn giản, muốn giảm nghèo bền vững không có cách nào khác là phải tạo được sinh kế, tăng thu nhập ổn định cho hộ nghèo và người nghèo. Thực tế hiện nay, thu nhập cao không phải là tất cả, con người không chỉ cần tiền mà còn cần đảm bảo chất lượng cuộc sống, cần được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, môi trường vệ sinh, chăm sóc y tế, dịch vụ viễn thông và nhiều dịch vụ xã hội khác của cuộc sống. Như vậy theo tác giả: Giảm nghèo bền vững là cải thiện cơ hội sinh kế cho các hộ nghèo nhằm nâng cao mức sống hộ nghèo, đảm bảo, ổn định thường 13 xuyên ở hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục giảm nghèo trong tương lai, giảm nguy cơ tái nghèo.
Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững Theo nghĩa rộng, QLNN được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, có thể do các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Theo nghĩa hẹp, hoạt động QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước hay còn gọi là hoạt động quản lý theo ý nghĩa vốn có của nó. Bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện thông qua hoạt động lập quy và hành chính. Hoạt động lập quy thể hiện ở việc cụ thể hóa luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội.
Hành chính là hoạt động chỉ đạo, quản lý của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Trong hoạt động này, chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp tổ chức - pháp lý bằng việc ban hành các văn bản pháp quy và văn bản cá biệt. Hoạt động lập quy và hành chính xuất phát từ đặc thù của hoạt động quản lý hành pháp nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội. Mỗi nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vi không gian và thời gian, do vậy đặc tính QLNN sẽ thay đổi tùy theo bản chất của chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.
Từ những trình bày trên, có thể nêu khái niệm: QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt và chủ yếu nhất, là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà nước, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội.