MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp phát triển, rất nhiều khu công nghiệp mọc lên khắp cả nƣớc, đóng góp một phần không nhỏ vào kinh tế đất nƣớc. Bên cạnh việc ƣu tiên phát triển thì việc kết hợp hài hoà giữa tăng trƣởng kinh tế với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội, phát triển con ngƣời và bảo vệ môi trƣờng là nền tảng cơ bản cho sự phát triển bền vững. Trong nhiều năm gần đây, khi kinh tế phát triển kéo theo môi trƣờng bị tác động mạnh.
Sự phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội nhƣng đã để lại hậu quả đáng kể cho môi trƣờng. Kết quả là ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, không khí, đất đã ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng sinh thái, huỷ hoại hệ thực vật, động vật và ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngƣời. Sông, hồ vừa là nguồn cung cấp nƣớc nhƣng đồng thời vừa là nơi tiếp nhận nƣớc thải từ các hoạt động canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, sản xuất công nghiệp và nƣớc thải đô thị. Đây là nguyên nhân chính làm cho nƣớc sông, hồ bị ô nhiễm làm ảnh hƣởng đến các hoạt động sống của con ngƣời và các loài sinh vật.
Sông Mã là con sông có lớn nhất miền Trung Việt Nam, có lƣu vực trải rộng hai quốc gia Việt Nam và Lào. Phía Việt Nam lƣu vực sông trải dài qua 5 tỉnh là Sơn La, Lai Châu, hòa Bình, Nghệ An và Thanh Hóa. Tổng diện tích lƣu vực lên đến 28.490 Km2, dòng chính của sông và phía hạ lƣu thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa. Thành phố Thanh Hoá là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh Thanh Hoá, sự phát triển của thành phố gắn chặt với hai bên bờ sông Mã, đây là ngồn cung cấp nƣớc chính cho toàn vùng.
Song sự phát triển của thành phố đang gây ra những tác động tiêu cực lên d ng sông do nƣớc thải trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ, nƣớc thải sinh hoạt từ các hộ dân sống xung quanh, các chất thải rắn, rác thải vứt xuống sông, hồ không qua xử lý, ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc. Kết quả dẫn đến là ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt, sản xuất và sức khỏe của ngƣời dân trong khu vực. 1 Để hạn chế những tác động xấu đến môi trƣờng cần phải có những đánh giá tổng quan về tình trạng ô nhiễm trên d ng sông và đƣa ra nhứng biện pháp tích cực để bảo vệ môi trƣờng, tránh đƣợc những tác nhân tự nhiên hay nhân tạo ảnh hƣởng đến môi trƣờng. Việc phân tích đánh giá chất lƣợng nƣớc từ đó đƣa ra các giải pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng nƣớc tốt hơn, đây là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông Mã đoạn chảy qua Thành phố Thanh Hóa – tỉnh Thanh Hóa ”nhằm tìm cơ sở giải quyết các vấn đề môi trƣờng, giúp các cơ quan quản lý tài nguyên nƣớc và bảo vệ môi trƣờng có các biện pháp thích hợp để giảm bớt ô nhiễm bảo vệ chất lƣợng nƣớc trên lƣu vực sông Mã. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ chất lƣợng nƣớc sông Mã đoạn chảy qua Thành Phố Thanh Hóa và đề suất biện pháp giảm thiểu phù hợp với tỉnh Thanh Hóa. Sông Mã nói chung ngoài chức năng cơ bản là thoát lũ từ thƣợng nguồn còn có vai trò rất quan trọng trong cấp nƣớc phục vụ thủy điện, các hoạt động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên trong những năm gần đây tình trạng ô nhiễm của đoạn sông ngày càng tăng, đe dọa đến khả năng cấp nƣớc phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy, việc xem xét, đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Mã, xác định các nguồn ô nhiễm và mức độ ảnh hƣởng của các hoạt động kinh tế xã hội của thành phố Thanh Hóa đến môi trƣờng nƣớc là rất quan trọng. Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế vềkhả năng tiếp cận các nguồn số liệu và thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu chất lƣợng môi trƣờng nƣớc sông Sông Mã Đoạn chảy qua Thành phố Thanh Hóa chiều dài khoảng 10km, từ Ngã ba Đầu– xã Hoằng Giang huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa đến cảng Lễ Môn xã Quảng Hƣng huyện Quảng Xƣơng tỉnh Thanh Hóa. 2 Hình 1 Bản đồ sông Mã đoạn chảy qua Thành phố Thanh Hóa – Thanh Hóa 3. Cách tiếp cận và ý nghĩa của đề tài Cách tiếp cận: -Tiếp cận thực tế: đi khảo sát, nghiên cứu, thu thập các số liệu thủy văn và số liệu về nƣớc thải từ khu công nghiệp, khu đô thị quanh khu vực nghiên cứu.
- Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận, tìm hiểu, lấy mẫu phân tích đầy đủ và hệ thống. - Tiếp cận các phƣơng pháp nghiên cứu tiên tiến từ các nƣớc trên thế giới. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Áp dụng phƣơng pháp thống kêthu thập tài liệu về dân sinh, kinh tế, xã hội và môi trƣờng của hệ thống sông Mã đoạn chảy qua thành phố Thanh Hóa. - Phân tích, so sánh đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Mã qua các năm, đánh giá ô nhiễm nƣớc sông dựa trên chỉ tiêu chất lƣợng nƣớc WQI.
Ý nghĩa của đề tài: 3 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng.
Ý nghĩa thực tiễn. - Đánh giá đƣợc thực trạng nguồn nƣớc sông Mã, nâng cao nhận thức ngƣời dân, làm cơ sở cho công tác quản lý của địa phƣơng - Đề xuất biện pháp giảm thiểu, nâng cấp chất lƣợng môi trƣờng nói chung cho ngƣời dân trên địa bàn. Cấu trúc của luận văn - Chƣơng 1:Tổng quan về ô nhiễm nƣớc và công tác quản lý bảo vệ chất lƣợng nƣớc sông ở các thành phố lớn và Sông Mã khi qua Thành phố Thanh Hóa – Tỉnh Thanh Hóa.Trong chƣơng này giới thiệu sơ bộ về các lƣu vực sông, hiện trạng điều kiện thủy văn của lƣu vực sông Mã.Đi sâu vào giới thiệu chất lƣợng nƣớc của lƣu vực Sông Mã. - Chƣơng 2:Đánh giá chất lƣợng nƣớc và ô nhiễm nƣớc của đoạn sông.
Đƣa ra các nguyên nhiên gây ô nhiễm nguồn nƣớc.Hiện trang chất lƣợng môi trƣờng nƣớc.Đồng thời đƣa ra các phƣơng pháp đánh giá về chỉ số chất lƣợng nƣớc. - Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nƣớc của đoạn sông mã chảy qua Thành phố Thanh Hóa – Tỉnh Thanh Hóa. Đƣa ra đề xuất quy hoạch nƣớc ngầm, nƣớc mặt, cũng nhƣ quy hoạch mang lƣới cấp thoát nƣớc và xử lý nƣớc thải. 4 CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƢỚC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SÔNG Ở CÁC LƢU VỰC SÔNG LỚN VÀ LƢU VỰC SÔNG MÃ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhƣng không phải vô tận, nƣớc khởi nguồn của sự sống trên trái đất.
Mặc dù nƣớc chiếm phần lớn diện tích bề mặt trái đất, tuy nhiên nƣớc dùng cho sinh hoạt và sản xuất chỉ chiếm khoảng 3% .Nguồn nƣớc này đang bị ô nhiễm trầm trọng do con ngƣời và các hoạt động sản xuất liên quan tới con ngƣời. Chất lƣợng các nguồn nƣớc mặt đang suy giảm rõ rệt.Các lƣu vực sông lớn, thƣợng nguồn thì bị chặn dòng làm thủy điện, các nhà máy công nghiệp xây dựng mọc lên không có giải pháp về xả thải, gây hại nghiệm trong tới chất lƣợng nƣớc cho các lƣu vực sông.Nhiều sông, hồ, kênh, rạch ở các thành phố lớn, các khu dân cƣ tập trung đang dần biến thành nơi chứa các chất thải đô thị, chất thải công nghiệp chƣa qua xử lý.Ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nƣớc mặt từ nguồn nƣớc thải sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và sản xuất của các làng nghề cũng đang cần sự quan tâm kịp thời. Vì vậy, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nƣớc đang là vấn đề cấp bách, không chỉ đ i hỏi trách nhiệm của các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.1 Tổng quan về ô nhiễm nƣớc sông ở các Lƣu vực sông lớn. Việt Nam có địa hình đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ở vùngĐông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện tích còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa, chủ yếu là ở ĐBSH và ĐBSCL.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mặc dù lƣợng mƣa trung bình nhiều năm trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.940 mm/năm nhƣng do ảnh hƣởng của địa hình đồi núi, lƣợng mƣa phân bố không đều trên cả nƣớc và biến đổi mạnh theo thời gian đã và đang tác động lớn đến trữ lƣợng và phân bố tài nguyên nƣớc ở Việt Nam.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính.Toàn quốc có 16 LVS với diện tích lƣu vực lớn hơn 2.500 km2, 10/16 lƣu vực có diện tích trên 10. Tổng diện tích các LVS trên cả nƣớc lên đến trên 1.000 km2, trong đó, phần lƣu vực nằm ngoài diện tích lãnh thổ chiếm đến 72%, đƣợc thể hiện qua Hình 1.1Bản đồ lƣu vực sông (Nguồn: Dự án đánh giá ngành nước, cục quản lý tài nguyên nước, 2008) 1.1 Ô nhiễm nước sông Hồng Sông Hồng là dòng sông mẹ của miền Bắc với diện tích lƣu vực là 169,000 km2 trong đó phần diện tích trên lãnh thổ Việt Nam là 86,000km2 (chiếm 51%).Lƣu vực Sông Hồng chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trƣng khí hậu nóng ẩm, 6 mƣa nhiều, lƣợng mƣa bình quân hàng năm dao động trong khoảng 1500 – 2000 mm. Do lƣợng mƣa lớn nên lƣợng dòng chảy của Sông Hồng cũng khá lớn. Lƣợng nƣớc trung bình nhiều năm của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình khoảng 137m3, trong đó lƣợng dòng chảy sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam là 93 tỷ m3, chiếm 68% tổng lƣợng dòng chảy của toàn khu vực.
Trong vài chục năm gần đây, tình hình khí hậu thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp do ảnh hƣởng của sự thay đổi toàn cầu.