phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ viết tắt và các bảng phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động BD HSNK và công tác quản lý hoạt động BD HSNK ở trƣờng THPT Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động BD HSNK ở một số trƣờng trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc Chƣơng 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BD HSNK ở các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc 9. Đóng góp của đề tài Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến HĐ BD HSNK ở các trƣờng Phổ thông. Ngoài ra, 6 nghiên cứu về QL HĐ BD HSNK ở các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc sẽ giúp giải quyết đƣợc một số vấn đề thực tiễn liên quan đến QL HĐ BD HSNK nói riêng và QL chuyên môn nói chung ở các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc. 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LU N VỀ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG HỌC SINH NĂNG KHIẾU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG HỌC SINH NĂNG KHIẾU Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan về các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK đã đƣợc thực hiện từ rất lâu và rất đƣợc coi trọng ở nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc phát triển. Ngay từ bậc học phổ thông, các nhà trƣờng đã đƣa việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK vào chiến lƣợc GD. Nhiều nƣớc xem BD HSNK là một dạng GD đặc biệt.
Chính việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK đã giúp các nƣớc phát triển nhanh chóng [35]. Nghiên cứu của Graffam (2006) trên 2 nhóm GV giỏi, có kinh nghiệm và có thành tích tốt trong GD HSNK với những trải nghiệm khác nhau, đều đƣa đến quan điểm chung về những việc mà họ cảm thấy cần thiết cho GD HSNK: (1) GD HSNK đòi hỏi GV phải xây dựng việc học cá nhân và việc học nhóm cùng lúc. (2) Cách thức mà một ngƣời thực hiện để thở thành GV dạy HSNK rất quan trọng: Kiến thức bản thân, đào tạo trƣớc đây và phản xạ chuyên nghiệp sẽ giúp cho GVBD chuẩn bị các nhiệm vụ giảng dạy. (3) Một số yếu tố về tiêu chuẩn của việc GD năng khiếu mà đƣợc xem nhƣ là các khái niệm cá nhân thì đƣợc đúc kết trong việc thực hành của GV giỏi khi dạy HSNK.
Nghiên cứu của Ford (2006), cho rằng: Để giảm khoảng cách về thành tích học tập đối với 2 đối tƣợng HS khác nhau ở Hoa Kỳ (HS da trắng và HS da đen) thì trong GD HSNK cần: (1) Chính xác hóa chƣơng trình GD. (2) Đảm bảo chất lƣợng GV và sự chuẩn bị cho HĐ GD. (3) Kinh nghiệm của GV và sự tham gia. (4) Số lƣợng HS trong lớp học.
(5) Ứng dụng Công nghệ thông tin. 8 Nghiên cứu của Newfoundland và Bộ Giáo dục Labrador (2013), đã chỉ ra những quan niệm sai về GD HS năng khiếu và tài năng nhƣ: (1) HSNK là những ngƣời có thành tựu cao/thành tích tốt. (2) Tất cả HS/mọi ngƣời đều có năng khiếu và tài năng. (3) HSNK sẽ tốt dù có hay không có chƣơng trình đặc biệt.
(4) HSNK xuất thân từ những gia đình có điều kiện. (5) Học hợp tác hoặc các hình thức học nhóm khác là phƣơng pháp hiệu quả đáp ứng đƣợc nhu cầu HSNK. (6) HSNK thƣờng gặp khó khăn trong việc hòa đồng với bạn bè. (7) GD năng khiếu là chiếm lĩnh hàng đầu.
Đồng thời đƣa ra khái niệm “Năng khiếu” theo nghĩa hẹp và chỉ ra những đặc tính của HS có năng khiếu [43]. Tác giả Đỗ Ngọc Thống (2007), cho rằng: phần lớn các nƣớc trên thế giới đều chú ý BD HSNK từ Tiểu học. Cách tổ chức dạy học cũng rất đa dạng: Có nƣớc tổ chức thành lớp, trƣờng riêng; một số nƣớc tổ chức dƣới hình thức tự chọn hoặc khóa học (course) học mùa hè; một số nƣớc do các trung tâm tƣ nhân hoặc các trƣờng đại học đảm nhận,. Tuy vậy, cũng có một số nƣớc không có trƣờng lớp chuyên cho HSNK nhƣ Nhật Bản và một số bang của Hoa kỳ.
Chẳng hạn: Từ 2001, với đạo luật “Không một đứa trẻ nào bị bỏ rơi” (No Child Left Behind) GD HSNK ở Georgia về cơ bản bị phá bỏ. Nhiều trƣờng không còn là trƣờng riêng, lớp riêng cho HSNK, với tƣ tƣởng các HSNK cần có trong các lớp bình thƣờng nhằm giúp các trƣờng lấp lỗ hổng về chất lƣợng và nhà trƣờng có thể đáp ứng nhu cầu GD HSNK thông qua các nhóm và các khóa học với trình độ cao. Chính vì thế, vấn đề BD HSNK đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận, nhiều nhà GD đề nghị đƣa HSNK vào các lớp bình thƣờng với nhiều HS có trình độ và khả năng khác nhau, với một phƣơng pháp GD nhƣ nhau [35]. Vấn đề mà tôi quan tâm và rút ra đƣợc qua việc nghiên cứu các tài liệu, bài viết về GD HSNK ở các nƣớc phát triển, đó là, cách thức phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK ở các nƣớc rất đa dạng phong phú, có thể là tổ chức thành trƣờng chuyên lớp chọn; có thể khuyến khích và hƣớng dẫn HS đam mê, sáng tạo, tự BD; có thể đƣa vào tất cả các trƣờng học bình thƣờng với những lớp học bình thƣờng,…vv.
Tuy nhiên, tất cả các nƣớc trên thế giới đều có một điểm chung là họ đều rất quan tâm 9 đến việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK để đào tạo ra những nhân tài phục vụ cho sự phát triển và phồn thịnh của Quốc gia. Cụ thể nhƣ sau: Ở Mỹ, việc phát hiện, tuyển chọn, BD và sử dụng nhân tài đƣợc xác định thành chiến lƣợc quốc gia, đƣợc đầu tƣ lớn và áp dụng rộng rãi từ HS phổ thông cho đến những ngƣời trƣởng thành và thành đạt, trong đó khâu đào tạo và BD nhân tài trẻ tuổi đƣợc thực hiện rất hiệu quả thông qua các chƣơng trình đào tạo nhân tài phổ biến trong các trƣờng đại học lớn. Hình thức GD linh hoạt đối với HSNK đƣợc ghi nhận ở Mỹ đầu tiên là việc cho phép một số HSNK đƣợc học chƣơng trình 6 năm chỉ trong vòng 4 năm tại Trƣờng St. Public School Louis 1868.
Trong Thế kỷ XX, tại Mỹ có hàng loạt các trung tâm nghiên cứu, BD HSNK đƣợc thành lập. Đến năm 2002, đã có 38 bang có đạo luật về GD HSNK (Gifted and Talented Student Act). Bên cạnh đó, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia hàng đầu trong việc thu hút các HSNK từ nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam thông qua các chƣơng trình học bổng du học. Các nƣớc châu Âu nhƣ Anh, Pháp, Đức, Nga tiến hành phân loại đối tƣợng theo mức độ phát triển trí tuệ và áp dụng những chƣơng trình GD đặc biệt đối với những đối tƣợng có năng lực trí tuệ cao.
Một trong những điển hình của trƣờng lớp đặc biệt kiểu này là trƣờng Hành chính Quốc gia Pháp, nơi đào tạo nhiều quan chức cao cấp cho nhà nƣớc Pháp và một số nƣớc khác. Tại đây, việc bổ nhiệm chức vụ tƣơng xứng ngay sau khi tốt nghiệp chƣơng trình đào tạo đặc biệt đƣợc áp dụng một cách trực tiếp, thậm chí không cần cấp văn bằng, chứng chỉ cho học viên tốt nghiệp khoá học. Đào tạo, BD tài năng cũng rất đƣợc chú trọng ở nhiều nƣớc châu Á, trƣớc hết là thông qua các trƣờng lớp, chƣơng trình GD chất lƣợng cao dành cho những HSNK và các kỳ thi tuyển chọn HSG. Nhật Bản không có hệ thống trƣờng riêng dành cho HSNK, nhƣng Nhật Bản coi vận mệnh của nƣớc mình trong tƣơng lai là việc BD thế hệ thanh niên có đạo đức, có tài năng, có sức sáng tạo để gánh vác trọng trách của Thế kỷ XXI.
Việc cạnh tranh suất vào các trƣờng đại học danh tiếng đã trở nên rất gay gắt. Chính vì 10 vậy, HS và các gia đình buộc phải nỗ lực đầu tƣ công sức, trí tuệ, tài chính cho việc học tập. Ở Trung Quốc, từ năm 1985 ngƣời ta đã thừa nhận phải có chƣơng trình GD đặc biệt dành riêng cho hai đối tƣợng khác nhau là HS yếu kém và HSNK, trong đó cho phép HSNK có thể học vƣợt lớp. Chiến lƣợc phát triển nhân tài của Trung Quốc đã đƣợc triển khai từ rất sớm trên phạm vi cả nƣớc.
Chiến lƣợc đó đƣợc thực hiện bài bản từ khâu tuyển chọn đến xây dựng chƣơng trình, phƣơng thức đào tạo, sử dụng và chế độ đãi ngộ, đặc biệt chú trọng gửi sinh viên, cán bộ tài năng đi du học và tu nghiệp dài hạn, ngắn hạn ở những nƣớc phát triển. Tổng quan về các nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, GD HSNK là một nội dung quan trọng của ngành GD-ĐT đƣợc quy định trong các Văn kiện của Đảng, Điều lệ trƣờng trung học cơ sở, THPT và trƣờng Phổ thông có nhiều cấp học và trong nhiệm vụ trọng tâm năm học của Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT. Với phạm vi nghiên cứu có hạn, chúng tôi nhận thấy có một số tác giả sau nghiên cứu vấn đề này: Về GD HSNK, tác giá Đỗ Tiến Đạt (2010), đã phân tích kỹ giáo dục năng khiếu ở Hoa Kỳ và Hồng Kông, tìm hiểu khái quát một số nƣớc châu Âu, châu Úc và châu Á để xác định xu thế BD HSNK trên thế giới. Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm và tìm hiểu nhu cầu về GD năng khiếu ở Việt Nam.
Có thể tóm lƣợc những nội dung cơ bản trong nghiên cứu của ông nhƣ sau: (1) Các nƣớc phát triển và Việt Nam đều rất coi trọng GD năng khiếu. Điều này thể hiện ở các điều Luật, ở chƣơng trình GD năng khiếu riêng. (2) Các nƣớc đều cho rằng, năng khiếu thƣờng nảy nở từ rất sớm nên phát triển hệ thống nhận dạng, phát hiện năng khiếu từ tiểu học là một nhiệm vụ trọng đại quốc gia. (3) Việt Nam và tất cả các quốc gia khác đều phát triển chƣơng trình giáo dục năng khiếu từ chƣơng trình giáo dục phổ thông.
[47] Tác giả Kim Ngọc Minh (2013), đã nghiên cứu và đƣa ra một số giải pháp tiền đề trong phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam, có tính đến hƣớng liên kết và thúc đẩy phát triển trong khu vực ASEAN, áp dụng các mô hình thành công quốc tế tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc, nghiên cứu của ông đề cập đến 3 vấn đề: (1) Tại sao phải xác định GD năng khiếu và tài năng nhƣ là một hƣớng ƣu 11 tiên thực sự ?. (2) Một số giải pháp tiền đề trong GD năng khiếu và tài năng ?.