phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ viết tắt và các bảng phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động BD HSG và công tác quản lý hoạt động BD HSG ở trƣờng THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động BD HSG ở ở các trƣờng THPT trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động BD HSG ở các trƣờng THPT trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƢỜNG THPT 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về Quản lý hoạt động bồi dƣỡng học sinh giỏi ở trƣờng trung học phổ thông 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Phát hiện, tuyển chọn và BD HSG đã đƣợc các nhà nghiên cứu thực hiện từ rất lâu và đƣợc coi trọng ở nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc phát triển. Ngay từ đầu chƣơng trình phổ thông, các nhà trƣờng đã đƣa việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSG vào chiến lƣợc phát triển nhà trƣờng. Nhiều nƣớc xem BD HSG là một dạng GD đặc biệt. Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu về vấn đề BD HSG đã đƣợc nhiều tác giả trên thế giới thực hiện.
Phần lớn họ đã đƣa ra các quan niệm về HSG, kinh nghiệm bồi dƣỡng HSG hiệu quả. Joe Gfaffam – Phó Hiệu trƣởng phụ trách Nghiên cứu Đại học Deakin (Úc) (2006) đã tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm GV giỏi, có kinh nghiệm và có thành tích tốt trong GD HSG với những trải nghiệm khác nhau, trong quá trình nghiên cứu của mình ông đƣa ra quan điểm chung cần thiết cho BD HSG là: (1) BD HSG đòi hỏi GV phải xây dựng việc học cá nhân và việc học nhóm cùng lúc. (2) Cách thức mà một ngƣời thực hiện để trở thành GV dạy HSG rất quan trọng: Kiến thức bản thân, đào tạo trƣớc đây và phản xạ chuyên nghiệp sẽ giúp cho GVBD chuẩn bị các nhiệm vụ giảng dạy. (3) Một số yếu tố về tiêu chuẩn của việc BD HSG mà đƣợc xem nhƣ là các khái niệm cá nhân thì đƣợc đúc kết trong việc thực hành của GV giỏi khi dạy HSG.
(4) Phát triển mối quan hệ giữa GVBD và HS là chìa khóa khơi dậy niềm đam mê, đƣa tới các thách thức, thúc đẩy cao và sự đầu tƣ cá nhân cho quá trình học tập của HS. Nghiên cứu của Ford (2006), tác giả đã đƣa ra các kinh nghiệm về BD HSG, trong đó có những giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách về thành tích học tập giữa 2 đối tƣợng HS (HS da trắng và HS da đen) là: (1) Chính xác hóa chƣơng trình GD. (2) Đảm bảo chất lƣợng GV và sự chuẩn bị cho HĐ GD. (3) 7 Kinh nghiệm của GV và sự tham gia.
(4) Số lƣợng HS trong lớp học. (5) Ứng dụng Công nghệ thông tin. (6) Sự an toàn trƣờng học.Nghiên cứu của Newfoundland và Bộ Giáo dục Labrador (2013), các tác giả đã chỉ ra những quan niệm sai về GD HSG nhƣ: (1) HSG là những ngƣời có thành tựu cao/thành tích tốt. (2) Tất cả HSG đều có năng khiếu và tài năng.
(3) Dù có hay không có chƣơng trình đặc biệt thì HSG vẫn học rất tốt, vẫn phát huy đƣợc tài năng của mình. (4) HSG xuất thân từ những gia đình có điều kiện. (5) Học hợp tác hoặc các hình thức học nhóm khác là phƣơng pháp hiệu quả đáp ứng đƣợc nhu cầu BD HSG. (6) HSG thƣờng gặp khó khăn trong việc hòa đồng với bạn bè.
(7) BD HSG là chiếm lĩnh hàng đầu. Đồng thời đƣa ra khái niệm “Học sinh giỏi” theo nghĩa hẹp và chỉ ra những đặc tính của HSG. Qua nghiên cứu tài liệu về BD HSG của các nƣớc trên thế giới, chúng tôi nhận thấy phần lớn họ đều chú ý BD HSG ngay từ bậc Tiểu học. Cách thức phát hiện, tuyển chọn và BD HSG ở các nƣớc rất đa dạng phong phú, có thể là tổ chức thành trƣờng chuyên lớp chọn; có thể khuyến khích và hƣớng dẫn HS đam mê, sáng tạo, tự BD, có thể đƣa vào tất cả các trƣờng học bình thƣờng với những lớp học bình thƣờng.
Cách tổ chức dạy học cũng rất đa dạng: Có nƣớc tổ chức thành lớp, trƣờng riêng; một số nƣớc tổ chức dƣới hình thức tự chọn hoặc khóa học mùa hè; một số nƣớc do các trung tâm tƣ nhân hoặc các trƣờng đại học đảm nhận công tác bồi dƣỡng,. Ở Mỹ, việc phát hiện, tuyển chọn, BD HSG đƣợc xác định thành chiến lƣợc quốc gia, đƣợc đầu tƣ lớn và áp dụng rộng rãi từ HS phổ thông cho đến những ngƣời trƣởng thành và thành đạt, trong đó khâu đào tạo và BD nhân tài trẻ tuổi đƣợc thực hiện rất hiệu quả thông qua các chƣơng trình đào tạo nhân tài phổ biến trong các trƣờng đại học lớn. Hình thức GD linh hoạt đối với HSG đƣợc ghi nhận ở Mỹ đầu tiên là việc cho phép một số HSG đƣợc học chƣơng trình 6 năm chỉ trong vòng 4 năm tại Trƣờng St. Public School Louis (1868).
Không những thế, Hoa Kỳ còn là một trong những quốc gia hàng đầu trong việc thu hút các HS tài năng từ nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam thông qua các chƣơng trình học bổng du học (Đỗ Ngọc Thống, 2007). 8 Ở các nƣớc Anh, Pháp, Đức, Nga đã tiến hành phân loại đối tƣợng theo mức độ phát triển trí tuệ và áp dụng những chƣơng trình GD đặc biệt đối với những đối tƣợng có năng lực trí tuệ cao. Một trong những điển hình của trƣờng lớp đặc biệt kiểu này là trƣờng Hành chính Quốc gia Pháp, nơi đào tạo nhiều quan chức cao cấp cho nhà nƣớc Pháp và một số nƣớc khác. Tại đây, việc bổ nhiệm chức vụ tƣơng xứng ngay sau khi tốt nghiệp chƣơng trình đào tạo đặc biệt đƣợc áp dụng một cách trực tiếp, thậm chí không cần cấp văn bằng, chứng chỉ cho học viên tốt nghiệp khoá học (Đỗ Ngọc Thống, 2007).
Nhật Bản tuy không có hệ thống trƣờng riêng dành cho HSG, nhƣng Nhật Bản coi vận mệnh của nƣớc mình trong tƣơng lai là việc BD thế hệ thanh niên có đạo đức, có tài năng, có sức sáng tạo để gánh vác trọng trách của Thế kỷ XXI. Việc cạnh tranh suất vào các trƣờng đại học danh tiếng đã trở nên rất gay gắt. Chính vì vậy, HS và các gia đình buộc phải nỗ lực đầu tƣ công sức, trí tuệ, tài chính cho việc học tập (Đỗ Ngọc Thống, 2007). Tổng quan về các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, GD HSG là một nội dung quan trọng của ngành GD-ĐT đƣợc quy định trong các Văn kiện của Đảng, Điều lệ trƣờng trung học cơ sở, THPT và trƣờng Phổ thông có nhiều cấp học, trong nhiệm vụ trọng tâm năm học của Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT và là chiến lƣợc phát triển ở trƣờng THPT.
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có một số tác giả sau nghiên cứu vấn đề này: Tác giả Đỗ Tiến Đạt (2010), đã phân tích kỹ giáo dục năng khiếu ở Hoa Kỳ và Hồng Kông, tìm hiểu khái quát một số nƣớc châu Âu, châu Úc và châu Á để xác định xu thế BD HSNK trên thế giới. Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm và tìm hiểu nhu cầu về GD năng khiếu ở Việt Nam. Có thể tóm lƣợc những nội dung cơ bản trong nghiên cứu của ông nhƣ sau: (1) Các nƣớc phát triển và Việt Nam đều rất coi trọng GD năng khiếu. Điều này thể hiện ở các điều Luật, ở chƣơng trình GD năng khiếu riêng.
(2) Các nƣớc đều cho rằng, năng khiếu thƣờng nảy nở từ rất sớm nên phát triển hệ thống nhận dạng, phát hiện năng khiếu từ tiểu học là một nhiệm vụ trọng đại quốc gia. (3) Việt Nam và tất cả các 9 quốc gia khác đều phát triển chƣơng trình giáo dục năng khiếu từ chƣơng trình giáo dục phổ thông. Tác giả Kim Ngọc Minh (2013), đã nghiên cứu và đƣa ra một số giải pháp tiền đề trong phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam, có tính đến hƣớng liên kết và thúc đẩy phát triển trong khu vực ASEAN, áp dụng các mô hình thành công quốc tế tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc, nghiên cứu của ông đề cập đến 3 vấn đề: (1) Tại sao phải xác định GD năng khiếu và tài năng nhƣ là một hƣớng ƣu tiên thực sự?. (2) Một số giải pháp tiền đề trong GD năng khiếu và tài năng?.
(3) Hƣớng tới việc thành lập Cộng đồng ASEAN trong thời gian gần, việc thiết lập mô hình nghiên cứu và ứng dụng mang tầm khu vực về GD năng khiếu và tài năng là điều cần thiết. Chúng tôi tìm hiểu và nhận thấy những nghiên cứu về QL HĐ BD HSG chủ yếu là nghiên cứu khoa học của các học viên cao học trong luận văn tốt nghiệp thạc sỹ khoa QLGD, với một số đề tài sau: Tác giả Đỗ Thị Ba (2013), đã nghiên cứu thực trạng QL BD HSG ở 3 trƣờng THPT ở thành phố Hồ Chí Minh (Trung Phú, Củ Chi và An Nhơn Tây); từ đó đề xuất 5 giải pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng HSG ở một số trƣờng THPT huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh với các nguyên tắc: mục tiêu, toàn diện, thực tiễn và hiệu quả. Tác giả Bạch Ngọc Linh (2015), đã nghiên cứu thực trạng HĐ BD HSG và QL HĐ BD HSG ở các trƣờng THPT chuyên vùng Đông Nam Bộ (THPT chuyên Quang Trung – Bình Phƣớc, THPT chuyên Lƣơng Thế Vinh – Đồng Nai, THPT chuyên Lê Quý Đôn – Bà Rịa Vũng Tàu).Từ đó, đề xuất sáu nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL HĐ BD HSG bao gồm: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL, GV, HS và gia đình HS về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐBDHSG; Đẩy mạnh QL HĐ dạy BDHSG của GV; Thúc đẩy QL HĐ học BD của HSG; Chú trọng việc BD năng lực dạy chuyên cho đội ngũ GV; Tăng cƣờng quản lý CSVC, phƣơng tiện dạy học; Xây dựng và hoàn thiện chế độ đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ GV và HSG.