Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở ngoài nước Mỗi thời đại, mỗi quốc gia đều có chủ trương bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cho người thầy theo cách riêng, đúc kết thành những kiến thức vô cùng quý báu và những tài liệu, công trình ấy lưu truyền qua nhiều thế hệ. Các thế hệ sau sẽ tiếp thu và cải tiến phù hợp với thời đại của mình.
Ở Hàn Quốc, việc BDGV là bắt buộc. BDGV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trong lớp học. Mỗi chương trình BD thường kéo dài 182 giờ. Các chương trình BD được thiết kế riêng cho từng đối tượng.
Chương trình cũng được phân loại cho phù hợp với mục đích BD [21]. Ở Nhật Bản, có quy chế bắt buộc BD hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được BD bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng [20]. Nền giáo dục tiên tiến, hiệu quả của Singapore bắt nguồn và được xây dựng trên nền tảng ĐNGV chất lượng cao.
Xác định rõ vai trò của giáo dục, chính phủ Singapore xây dựng hệ thống trung tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên mang tầm cỡ quốc tế. Việc đào tạo đội ngũ giáo viên đạt chuẩn mà Singapore theo đuổi là: Đào tạo ĐNGV có khả năng liên tục sáng tạo kiến thức chứ không chỉ hấp thu kiến thức; Xây dựng ĐNGV có khả năng đề xuất phương pháp học tập hiệu quả chứ không chỉ truyền đạt những điều đã học; Xây dựng ĐNGV có khả năng kiến tạo môi trường học tập cho HS chứ không chỉ thực thi yêu cầu từ người khác; Xây dựng ĐNGV có khả năng kiến tạo nên các thế hệ học sinh phát triển cá tính riêng biệt chứ không chỉ là thành viên đơn thuần trong lớp; và xây dựng e 8 ĐNGV là những người dẫn đầu sự thay đổi trong giáo dục chứ không chỉ chạy theo sự đổi mới. Do vậy, mỗi giáo viên trở thành minh chứng đầy thuyết phục về sự thay đổi tích cực trong các hoạt động giáo dục [26]. Có thể thấy, nhiều nước trên thế giới luôn quan tâm đến hoạt động BDGV và có hệ thống BDGV từ trung ương đến địa phương.
Hình thức BDGV tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng ĐNGV. Các nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở trong nước Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng ĐNGV đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp, Đảng, chính quyền và chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”; “Cán bộ và giáo viên phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc, tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [31]. Người cũng khẳng định rằng trong sự nghiệp giáo dục, nếu không quan tâm đến bồi dưỡng GV thì không thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển đất nước.
Từ khi thực hiện đổi mới giáo dục 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng sự phát triển GD nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng GV có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hóa đội ngũ này. Qua ba chu kì BD thường xuyên 1992-1996, 1997- 2000, 2003-2007 đã phần nào khẳng định được những kinh nghiệm bổ ích về hoạt động nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ GV phổ thông nói chung và GV THCS nói riêng. Bồi dưỡng giáo viên là công tác được Bộ GD&ĐT coi trọng và quan tâm chú ý trong nhiều năm qua.
Công tác đào tạo, BD được e 9 thực hiện hết sức linh hoạt, đa dạng, phong phú: đào tạo mới, đào tạo nâng chuẩn, trên chuẩn, BD thường xuyên theo chu kì, BD cập nhật kiến thức, BD thay sách,… Những công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng ĐNGV của các tác giả trong nước khá nhiều và có nhiều đầu tư nghiên cứu, tiêu biểu có thể kể đến là: Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới của Nguyễn Minh Đường [18]; Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng thường xuyên, tác giả Trần Bá Hoành [24]; Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau của PGS. Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Thanh Sang [16]. Có những công trình đánh giá tổng quan về thực trạng chất lượng đội ngũ nhà giáo của cả nước và đề xuất giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ, còn có nhiều bài báo, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tìm hiểu thực trạng cụ thể của một số địa phương, những giải pháp gắn với thực tế của địa phương mình. Những công trình nghiên cứu đó góp phần quan trọng gợi mở cho tác giả nghiên cứu đề tài để áp dụng có hiệu quả vào thực tế giáo dục ở địa phương.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý và quản lý giáo dục 1. Khái niệm quản lý Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý (QL) dưới các góc độ khác nhau và đa dạng về cách tiếp cận, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau về QL của các tác giả trong và ngoài nước. Có thể nêu một số quan niệm về quản lý như sau: Theo Harold Koontz, Cyril-Odonnel, Heinz Weihriech: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” [23].
e 10 Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động tối đa các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”. Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý bằng những công cụ, phương pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu đề ra. Bốn chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra có quan hệ chặt chẽ, biện chứng, bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý.
Trong chu trình đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức năng quản lý. Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin được biểu hiện bằng sơ đồ sau: Kế hoạch hóa Thông tin Kiểm tra Tổ chức quản lý Chỉ đạo Sơ đồ 1. Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 1. Khái niệm quản lý giáo dục Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý e 11 nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [35, tr.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: + Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [28, tr. + Đối với cấp vi mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [28, tr. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [29, tr. Như vậy, QLGD được hiểu là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra”.
Khái niệm đào tạo và bồi dưỡng 1. Khái niệm đào tạo Theo Tự điển bách khoa Việt Nam (1995) thì: “Đào tạo là một quá trình tác động đến con người, làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức - kỹ năng - kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị thích nghi với cuộc sống và e 12 có khả năng nhận được sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [25].