Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CBQL CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thế kỷ XXI, “thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ” kéo theo sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ. Giáo dục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Việc học tập suốt đời ở nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới không còn tồn tại chỉ như một khái niệm hay nguyên tắc đơn thuần trong học tập mà nó trở thành một trong những chìa khóa quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Xây dựng mô hình xã hội học tập có nghĩa là xây dựng một nền giáo dục của một xã hội học tập suốt đời, toàn diện và tích hợp, một xã hội trong đó có tất cả các yêu cầu học hành của mọi người ở mọi nơi, mọi lúc đều được đáp ứng. Mô hình một xã hội học tập mới ra đời nhưng đã tỏ ra là một mô hình hữu hiệu đới với tất cả các quốc gia không phân biệt giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển. Xây dựng xã hội học tập suốt đời dựa trên bốn yêu cầu cơ bản hay còn gọi là bốn trụ cột mà trong báo cáo trình UNESCO của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đề cập đến đó là: Học để biết, học để làm việc, học để tồn tại, học để cùng chung sống với nhau. Coombs với tác phẩm nổi tiếng “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới” đã đề cập đến việc giáo dục trong nhà trường không đủ sức đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người [16].
Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, kiến thức học trong nhà trường là quá ít ỏi, nhanh lạc hậu. Đến năm 1972, Edgar Faure đã cho xuất bản cuốn sách “Học tập để tồn tại” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn và đặt trong khuôn khổ giáo dục suốt đời. Bertrand Schwatz, một chuyên gia giáo dục người Pháp đã chỉ ra: Các chương trình giáo dục và đào tạo đã thay đổi và phát triển không ngừng, người ta không thể đào tạo một con người chỉ 8 bằng một chương trình cố định. Con người quên đi rất mau những gì đã học, nếu người ta không được dùng nó trong thực tiễn, kiến thức đó sẽ phai mờ và trở thành kiến thức chết.
Từ sau nhưng năm 50, khoa học kỹ thuật đã bước vào thời kỳ phát triển như vũ bão, kéo theo sự phát triển to lớn về công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế, văn hóa và giáo dục. Đăc biệt trong những năm cuối của thế kỷ XX, sự biến đổi to lớn của bộ mặt thế giới đến mức người ta gọi nửa sau của thế kỷ XX là “thế kỷ XX thứ hai”. Kéo theo nó là những thông tin khoa học kỹ thuật cứ 10 năm lại tăng lên gấp đôi, trình độ tốt nghiệp đại học chỉ sau 7-10 năm đã có nhu cầu bức thiết được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng để đạt chuẩn mới, chuẩn cao hơn để đóng góp, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh hơn. Như vậy nhu cầu và nguyện vọng được học tập, được giáo dục là của tất cả mọi người.
Bước sang thế kỷ XXI, nhu cầu học tập suốt đời ngày càng cấp thiết và cấp bách, mọi người cần học để biết, để sống cùng nhau và hoạc tập để tồn tại như báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của Jaques Delors “Học tập - một kho báu tiềm ẩn”, 1997. Đó cũng là ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người trong xã hội. Một trong những hình thức học tập suốt đời là bồi dưỡng nhân lực. Trong nền giáo dục quốc gia, đội ngũ CBQL là những nhân vật quan trọng nhất trong nhà trường, phải được liên tục bồi dưỡng để đáp ứng được với yêu cầu của nhà trường hiện đại, đồng thời phải có khả năng thích ứng với những đổi mới của hệ thống giáo dục suốt 40 năm công tác của mỗi người.
Đội ngũ CBQL chính là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Xu hướng đổi mới giáo dục để chuẩn bị con người cho thế kỷ XXI đang đặt ra nhưng yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL. Chính vì vậy, mối quan tâm của các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục cùng những phương thức tiến hành tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ CBQL đang trở thành những vấn đề lớn, đặc biệt được chú trọng trong các hệ thống giáo dục tại các nước trên thế giới. 9 Ở một số nước, các viện đào tạo nhà QLGD được thành lập nhằm mục đích nghiên cứu phát triển chương trình cùng với chỉ dẫn trực tiếp các hoạt động cung cấp đội ngũ lãnh đạo của nhà trường.
Các phương pháp xây dựng tiêu chuẩn, xác định những yêu cầu về trình độ và đánh giá những ảnh hưởng của người quản lý trường học đang được xem xét, cân nhắc, rà soát. Dưới nhiều góc độ khác nhau, rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng CBQL mà chủ chốt là phát triển chương trình bồi dưỡng để đáp ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ trong xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Chỉ đạo xây dựng phát triển chương trình bồi dưỡng, cung cấp cho CBQL những kiến thức, kỹ năng cần thiết để lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh nhiều thay đổi gắn với điều kiện cụ thể của đất nước. Trong nghiên cứu của trường Đại học cho lãnh đạo và dịch vụ cho trẻ em của Anh đăng trên “Shool Learnship Today” chỉ rõ những ưu tiên trong việc quản lý bồi dưỡng CBQL trường học ở Anh là cần xây dựng kỹ năng xây dựng tổ chức học tập, lãnh đạo việc dạy học và quản lý thay đổi.
Mỗi quốc gia đều có hình thức khác nhau trong việc quản lý bồi dưỡng cho CBQL nhưng hầu hết đều tăng cường nghiệp vụ quản lý như: ở Thụy Sĩ chương trình bồi dưỡng CBQL được xây dựng chú trọng vào kỹ năng: lãnh đạo, giáo dục, phát triển trường học, tổ chức quản lý. Công hòa Liên bang Đức chú trọng vào các kỹ năng: sư phạm, kiểm soát, lãnh đạo, tổ chức, tư vấn., (2005) đã nghiên cứu về công tác lãnh đạo trường học, bồi dưỡng CBQL, phương pháp bồi dưỡng vấn đề về chính sách và tài chính. Trong đó chương trình bội dưỡng về CBQL, nghiên cứu này chỉ rõ: Việc xây dựng chương trình bồi dưỡng phải gắn liền với CBQL [10,tr 12]. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới rất quan tâm đến quản lý bồi dưỡng CBQL giáo dục đảm bảo chất lượng nghề nghiệp để chèo lái con thuyền nhà trường đi đến thành công.
Cần phải chỉ đạo xây dựng và phát triển 10 nội dung các chương trình bồi dưỡng, đổi mới hình thức và phương pháp bồi dưỡng để có thể bồi dưỡng CBQL đồng thời là những nhà quản lý, lãnh đạo trường học đáp ứng được vai trò lãnh đạo, quản lý nhà trường, đảm bảo cho nhà trường thành công và phát triển tốt đẹp trong điều kiện hiện nay. Trường đại học Nam Floria xây dựng chương trình bồi dưỡng cho CBQL giáo dục nhằm mục đích phát triển năng lực nghề nghiệp cho nhà quản lý đảm bảo lãnh đạo nhà trường hiệu quả. Đây là một chương trình tích hợp gồm 11 vùng kiến thức kỹ năng theo 4 lĩnh vực lớn: 1. Lãnh đạo chiến lược; 2.
Lãnh đạo tổ chức; 3. Lãnh đạo giáo dục; 4. Lãnh đạo chính trị và cộng đồng. Thụy Sĩ tổ chức bồi dưỡng nhà lãnh đạo trường học theo các yêu cầu năng lực: năng lực lãnh đạo, năng lực xã hội, năng lực cá nhân, năng lực giáo dục, năng lực phát triển trường học, năng lực tổ chức - quản lý.
Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo Singapore xây dựng mô hình trường học ưu việt (SEM). Từ năm 2000, tất cả các trường sẽ thực hiện việc tự đánh giá sử dụng mô hình trường học ưu việt. Các trường sẽ xem xét một cách đều đặn, hệ thống và toàn diện các quy trình và kết quả của mình đối chiếu với mô hình trường học ưu việt. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục và bồi dưỡng đội ngũ CBQL: “Đại đa số cán bộ hoặc bận công việc hoặc xa xôi quá chưa được huấn luyện.
Đối với những cán bộ đó, Đảng phải tìm cách huấn luyện họ hoặc mở lớp ở địa phương hoặc gửi sách vở để họ nghiên cứu,. Lời Bác dạy như kim chỉ nam cho ngành giáo dục suốt những năm qua. Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong tiến trình đổi mới, khi xem xét các vấn đề giáo dục, Đảng và Nhà nước ta khẳng định vai trò của đội ngũ CBQLGD trong hệ thống giáo dục đang ngày càng phát triển về mọi mặt. Đảng xác định: phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD, sử dụng đúng năng lực, đãi ngộ đúng công sức và tài năng.
Để phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước đã đề ra chủ trương “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” giáo dục với quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ nền giáo dục 11 Việt Nam”. Chủ trương trên đã được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như các bộ, ngành khác. Điều này được khái quát rất cụ thể trong: Chỉ thị số 40-về việc xây dưng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQLGD, nhấn mạnh cần tăng cường đào tạo, bồi dường CBQLGD [25]; Nghị quyết về giáo dục số 37/2004 của Quốc hội khóa 11 [15]; Quyết định số 09/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005- 2010; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [21]. Ở phương diện các nghiên cứu về Quản lý giáo dục và Quản lý đào tạo cán bộ quản lý giáo dục, trong thời gian qua ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau: Tác giả Vũ Ngọc Hải viết về “Đào tạo CBQLGD trong phát triển giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế” .