CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về quản lí bền vững đất ngập nước Trên cơ sở phân tích, đánh giá và so sánh các cách tiếp cận liên quan đến quản lí bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng hiện nay nhằm đánh giá ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về mô hình quản lí bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng.
Từ việc nghiên cứu mô hình quản lí bền vững ĐNN đã áp dụng tương đối thành công trên phạm vi toàn cầu (thế giới, trong khu vực và Việt Nam) Luận án nhằm làm nổi bật vai trò, tầm quan trọng và cách thức của cộng đồng tham gia vào mô hình quản lí bền vững ĐNN để từ đó áp dụng vào khu vực nghiên cứu. Ngoài ra, các mô hình này có một số điều kiện khá tương đồng với Việt Nam nói chung và khu Ramsar VQG Ba Bể nói riêng, vì thế việc nghiên cứu áp dụng trong điều kiện thực tế là rất cần thiết. Dưới đây là một số mô hình quản lí bền vững ĐNN đã thành công trên thế giới và khu vực. Vùng ĐNN Blyth và Liverpool là vùng ĐNN nội địa rộng lớn thuộc lưu vực sông Liverpool (Úc) là nơi cư trú đa dạng, như đầm lầy, các hồ của các đầm lầy nước ngọt và rừng ngập nước, vùng ĐNN này là nguồn tài nguyên chính cung cấp sinh kế cho người dân bản địa, kết nối văn hóa của họ với vùng đất này, họ có kho tàng tri thức rất phong phú về nơi cư trú và thảm thực vật ở đây và là kho tàng văn hóa kết nối.
Người dân bản địa sở hữu đất đai được duy trì và sử dụng theo phương thức truyền thống của họ [135]. Để xử lý các mối đe dọa xâm lấn của các loài động vật hoang dã, cỏ dại và các hoạt động khai khoáng của các doanh nghiệp đến từ bên ngoài, cộng đồng người dân địa phương đã tham gia vào quá trình tham vấn và xây dựng các sáng kiến quản lí đề cao nguyện vọng của người dân liên quan đến vấn đề sử dụng đất theo hướng truyền thống mà không ưu tiên cho các sáng kiến quản lí theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Ở đây ĐNN được quản lí theo mô hình các bên cùng tham gia, bao gồm cơ quan quản lí chuyên môn ĐNN của địa phương, chính quyền Liên bang và các cơ quan nghiên cứu có sự tham vấn của cộng đồng. Theo đó, một 6 Ban quản lí của địa phương được các bên đề cử với vai trò là đại diện của các bên làm cơ quan trung gian hòa giải và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lí.
Việc thành lập một nhóm tuần tra được tập huấn nâng cao về công tác bảo vệ tuần tra tài nguyên ĐNN của địa phương đóng vai trò là đầu mối đại diện cho người dân tham gia các hoạt động quản lí. Bên cạnh đó, lợi ích của cộng đồng được xử lý thông qua quá trình hợp tác và trao đổi về TTBĐ và tri thức hiện đại, điều này đã tăng cường tham vấn kỹ thuật và củng cố lòng tin giữa các bên liên quan tham gia quản lí ĐNN. Kinh nghiệm từ mô hình quản lí ĐNN ở Úc cho rằng để quản lí ĐNN bền vững không thể tách rời vai trò, giá trị của TTBĐ và sinh kế của cộng đồng trong quá trình quản lí ĐNN. Ở Tanzania (Đông Nam châu Phi), để quản lí bền vững ĐNN, bên cạnh việc xây dựng mối quan hệ và cơ chế hợp tác giữa người dân bản địa với các bên liên quan, các bên liên quan và cộng đồng còn được hỗ trợ tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới được mô tả tại Bảng 1.
Vai trò của các bên liên quan trong quản lí bền vững ĐNN ở Tanzania Các bên liên Vai trò trong quản lí bền vững ĐNN quan Nhận diện và thực hiện các hoạt động quan trọng đối với sinh Cộng đồng kế của họ, đồng thời chia sẻ những thông tin liên quan đến quản lí bền vững ĐNN Xây dựng chính sách quản lí ĐNN và hướng dẫn thực hiện, Các nhà hoạch đồng thời cung cấp các thông tin, kiến thức cho các bên liên định chính sách quan Cơ quan quản lí Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hỗ trợ, khuyến khích việc ĐNN của địa thực hiện hướng dẫn các tập quán và phương pháp quản lí bền phương vững ĐNN Đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các cơ hội, lợi ích, Khu vực tư nhân quản lí rủi ro, được cho phép đầu tư triển khai các hoạt động quản lí bền vững ĐNN 7 Các bên liên Vai trò trong quản lí bền vững ĐNN quan Các chương trình Hỗ trợ xây dựng năng lực, nâng cao kiến thức, kỹ năng về tập phát triển quán và phương pháp quản lí bền vững ĐNN Kết nối các bên liên quan sử dụng phương pháp “học đi đôi với hành” (LPA) nhằm kết nối các bên liên quan chủ đạo, bao Cơ quan nghiên gồm các nhà hoạch định chính sách, các nhà thực hành, nông cứu dân cùng nhau hợp tác để xử lý các vấn đề đang tồn tại và xác định các giải pháp quản lí ĐNN trong tương lai. Cơ quan giáo dục Hỗ trợ xây dựng năng lực nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng & đào tạo về tập quán và phương pháp quản lí bền vững ĐNN Truyển tải thông tin thông qua các kênh khác nhau từ đó kết Các cơ quan nối những thông tin thuyết phục từ các nhà nghiên cứu, trong truyền thông đó có các thông tin khảo sát thực địa về quản lí ĐNN Nguồn:[155] Từ mô hình quản lí ĐNN ở Tanzania cho thấy việc thiết lập cơ chế hợp tác và xây dựng mối quan hệ giữa người dân bản địa (cộng đồng) với các bên liên quan, đồng thời việc phát huy vai trò, giá trị của TTBĐ trong sử dụng khôn khéo ĐNN là những điều kiện tiên quyết cho việc quản lí bền vững ĐNN. Vùng ĐNN Kampung Kuantan, Bang Selangor State, Malaysia, để quản lí, xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh do các hoạt động du lịch sinh thái, trong đó các doanh nghiệp du lịch tổ chức các họa động thăm quan bằng xuồng gây ảnh hưởng tới nơi cư trú của một số loài trong vùng, như: đom đóm, ếch.Mô hình quản lí tổng hợp ĐNN đã được xây dựng và áp dụng, bao gồm sự tham gia quản lí của nhiều bên liên quan: An ninh thôn, Hội đồng phát triển thôn và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, tham vấn về các vấn đề quản lí và bảo tồn, tuyên truyền, giáo dục, cung cấp tài liệu và nâng cao nhận thức về bảo tồn [33]. Từ mô hình quản lí ĐNN của Malaysia, rút ra bài học rằng để xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển du lịch gây ra, cần áp dụng mô hình 8 quản lí tổng hợp, theo đó cần tăng cường sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình quản lí ĐNN vừa đảm bảo được công tác bảo tồn đồng thời hoạt động phát triển kinh tế từ hoạt động du lịch, tận dụng lợi thế đặc thù của vùng.
Tuy nhiên, mô hình này chưa đề cập đến cơ chế chia sẻ lợi ích và kế hoạch bảo tồn lâu dài cũng như việc xác định cụ thể các vùng môi trường bị tác động và chưa có các giải pháp đề xuất cụ thể. Mô hình quản lí ĐNN tại Thái Lan, trong bối cảnh khoảng trên một nửa diện tích rừng ngậm mặn (RNM) cho việc phát triển nuôi tôm đã bị mất thì Tổ chức phi chính phủ Yad Fon đã nhận thức được vai trò của RNM và sự phụ thuộc sinh kế của các cộng đồng cư dân ven biển vào nguồn tài nguyên này. Hơn một thập kỷ, Pisit Chansnoh, một thành viên đồng sáng lập và là chủ tịch hiện nay của Yad Fon, đã đưa Tổ chức này thành đơn vị dẫn đầu trong việc thúc đẩy cộng đồng địa phương tham gia vào quản lí tài nguyên ven biển [31]. Sau một thời gian hoạt động, Tổ chức của Yad Fon đã hỗ trợ, hướng dẫn cộng đồng giải quyết, xử lý các vấn đề bức xúc nhất trong cộng đồng.
Thông qua các hội thảo và các buổi thảo luận cởi mở, những vấn đề nổi cộm, bức xúc của cộng đồng đã được tháo gỡ, gải quyết và chính cộng đồng là người đề ra các giải pháp khắc phục, xử lí vấn đề. Qua mô hình quản lí ĐNN của Thái Lan cho thấy rằng điều kiện tiên quyết cho thành công của mô hình phục hồi và quản lí RNM là: sự kết nối, tham gia và phối hợp giữa tổ chức phi chính phủ có kinh nghiệm, uy tín với cộng đồng địa phương trong bảo tồn. Tuy nhiên, vai trò của chính quyền địa phương trong mô hình này còn mờ nhạt, chưa thực sự vào cuộc với cộng đồng, bên cạnh đó chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích của cộng đồng một cách bình đẳng, tính bền vững để duy trì mô hình sau khi dự án kết thúc chưa rõ ràng. Các nghiên cứu về quản lí và sử dụng đất ngập nước dựa vào cộng đồng Mô hình sử dụng hợp lý ĐNN tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định [104].
Vấn đề được xác định tại khu vực này là người dân tự do khai thác ngao 9 giống không có sự quản lí phù hợp. Mô hình sử dụng hợp lý ngao giống đã được nghiên cứu và ứng dụng tại khu vực này. Trong mô hình này đã xác định các bên liên quan tại địa phương: Chính quyền tỉnh, Chính quyền huyện và xã; Vườn quốc gia; người dân địa phương; doanh nghiệp nhỏ thuê mặt nước. Các bên liên quan tại khu vực vườn đã thống nhất và tuân thủ quy chế bảo tồn và sử dụng hợp lý.
Quy chế này được UBND tỉnh thông qua. Theo đó, các bên liên quan đều có trách nhiệm quản lí, bảo tồn cũng như chia sẻ lợi ích có được từ sử dụng tài nguyên ngao giống. Đối với người dân, họ được phép khai thác ngao giống trong giới hạn nhất định, đồng thời họ có trách nhiệm đóng một phần kinh phí lợi nhuận họ thu được cho các bên liên quan khác trong vùng. Đối với chính quyền địa phương họ có thêm nguồn kinh phí tăng cường công tác quản lí xã hội tại khu vực nuôi ngao.
Đối với Vườn quốc gia, họ có thêm một nguồn thu, đồng thời họ tăng cường và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc quản lí, bảo tồn ĐDSH trong khu vực. Chính quyền cấp tỉnh điều phối chung công tác quản lí, bảo tồn tại khu vực này.