Chương 1 CƠ SỞ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Tính tất yếu của việc xây dựng nông thôn mới Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đạt được nhiều thành tựu hết sức to lớn, tuy nhiên chưa phát huy hết những tiềm lực vốn có ở vùng nông thôn, vai trò chủ thể của người nông dân chưa được phát huy tối ta, nền nông nghiệp còn kém bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, bộ bặt nông thôn chưa thay đổi theo hướng hiện đại nhất là về cơ sở hạ tầng, chưa áp dụng nhiều những tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào sản xuất,.nhiều vấn đề xã hội phát sinh. Chính lẽ đó, Đảng ta chủ trương tiến hành xây dựng nông thôn mới, vừa giải quyết các vấn đề “tam nông”, vừa từng bước phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn; nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; giữ vững an ninh chính trị ở khu vực nông thôn, phát huy dân chủ ở cơ sở; nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở nông thôn. Như vậy xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng đồng thời cũng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm từng bước “Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nhân dân”.
8 Xây dựng nông thôn mới là nhằm tạo ra những giá trị mới, những “cái mới” cho nông thôn Việt Nam. Đó là một nông thôn hiện đại có diện mạo mới (giá trị kinh tế mới, văn hóa nông thôn văn minh hiện đại, tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, phương thức sản xuất theo hướng hiện đại,…). Xây dựng nông thôn mới sẽ hình thành một mẫu hình “người nông dân mới” (có tư duy mới, có tố chất văn hóa, hiểu biết về kĩ thuật, biết vận dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, có cái nhìn mới về quan hệ xã hội, môi trường,…). Xây dựng nông thôn mới sẽ hình thành mô thức mới về quản lý ở nông thôn, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của người nông dân được phát huy, người nông dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người thụ hưởng những giá trị vật chất và tinh thần do chính họ tạo ra.
Tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần tộc người, về văn hóa, là nơi bảo tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của con người. trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới có vai trò quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chương trình xây dựng nông thôn mới là quá trình đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực ở nông thôn theo hướng CNH - HĐH nhằm phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.
Thông qua 19 tiêu chí bao quát hầu hết các lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường, an ninh,…sẽ dần hình thành diện mạo nông thôn mới có một nền sản xuất phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, từng bước hiện đại, đời sống văn hóa phát triển theo hướng hiện đại, dân chủ được phát huy tốt hơn, môi trường sinh thái được bảo vệ,… 9 Nông thôn mới Việt Nam sẽ là nơi sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp có năng suất và chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa, là nơi giữ gìn văn hóa truyền thống của các dân tộc, là nơi bảo đảm hài hòa mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên,… Việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đang trở thành một cuộc vận động cách mạng của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới 1. Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trước đổi mới Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, với chủ trương quốc doanh hóa và tập thể hóa triệt để đã kéo dài hàng chục năm trước Đổi mới, nhất là khoảng thời gian từ 1976-1980, đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế ở nước ta. Cơ chế đó dẫn đến tình trạng khủng hoảng và trì trệ kéo dài trong nhiều năm.
Trước tình hình suy thoái kinh tế nghiêm trọng này, nền kinh tế lâm vào lạm phát cao, mất cân đối và khủng hoảng. Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ VI (khóa IV) đã ban hành Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 20/9/1979 “Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách” nhằm khắc phục những tồn tại nói trên và khuyến khích sản xuất phát triển, trước hết là sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Đối với sản xuất nông nghiệp, Đảng ta tiến hành tổng kết thực tiễn và rút ra những bài học kinh nghiệm từ công tác khoán ở các hợp tác xã, nông trường, xí nghiệp quốc doanh nông nghiệp và đi đến kết luận: cần phải “Mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp”. Từ tư tưởng chỉ đạo này, Ủy ban nông nghiệp Trung ương (nay là Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã chủ trì, phối hợp với một số cơ quan nghiên cứu tiến hành đánh giá một cách khách quan, khoa học thực tiễn 10 các hình thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã ở các địa phương, qua đó kiến nghị với Ban Bí thư xem xét quyết định ban hành Chỉ thị 100-CT/TW (gọi tắt là Chỉ thị 100) ngày 13/01/1981 về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”.
Mục tiêu của Chỉ thị 100 là “Bảo đảo phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất; củng cố tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn; không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên, tăng năng suất cho hợp tác xã, làm tròn nghĩa vụ và không ngững tăng khối lượng nông sản cung ứng cho Nhà nước” [7, tr. Như vậy, Chỉ thị 100 là bước đột phá về cơ chế quản lý nông nghiệp, thực sự đã thổi luồng gió mới, tạo sinh khí mới vào nền nông nghiệp Việt Nam và điều đặc biệt hơn được hầu hết nông dân, xã viên hợp tác xã hồ hởi đón nhận. Nhờ Chỉ thị 100, không những đã duy trì được các mô hình hợp tác xã mà còn thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển sôi động hơn, đưa sản lượng lương thực tăng đều qua các năm. Thực hiện chủ trương đường lối phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch 5 năm (1981-1985) do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V xác định đối với nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cùng với chính sách “Khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động”, Đảng và Nhà nước ta còn ban hành nhiều chính sách khác như: chính sách ổn định nghĩa vụ bán lương thực, thực phẩm đối với nông dân; chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển lực lượng sản xuất; chính sách cung ứng các điều kiện sản xuất nông thôn,…nhằm làm rõ thêm tác động của các chính sách mới đối với nông nghiệp, nông thôn ở giai đoạn này.
Theo đó Đảng và Nhà nước đã chỉ ra một số bất cập còn tồn tại trong 11 chính sách về nông nghiệp, nông dân và nông thôn như: mức khoán nhóm không ổn định, động lực vượt khoán dần bị triệt tiêu; bộ máy quản lý hợp tác xã sản xuất còn nặng nề, cồng kềnh; nạn rong công, phóng điểm, khê đọng sản phẩm vẫn rất lớn,…Do đó, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong giai đoạn này tiếp tục khó khăn, tăng trưởng chậm, tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước. Để tìm lối thoát giải quyết vấn đề, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Từ đây đã mở ra một thời kì mới với những cơ chế chính sách và quan điểm mới về phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tư tưởng chủ đạo về xây dựng nông thôn mới của Đảng ta sau đổi mới Báo cáo chính trị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam 1991 nêu: Nền kinh tế Việt Nam sau đổi mới đạt được nhiều thành tựu phát triển hết sức lạc quan, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại nông sản tăng trưởng khá tốt; năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt con số 20 triệu tấn xuất khẩu, 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 30 triệu USD.
Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực, qua hơn thập niên đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới. GDP trong lĩnh vực nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 3,3%, thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện hơn, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân hàng năm 1,5%; bộ mặt ở nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật ở nông thôn được nâng cao. Nông nghiệp có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát triển của đất nước, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế [23, tr 4-5]. Từ những thành tựu gặt hái sau Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhận thức đúng đắn về tầm vóc chiến lược của vấn đề “tam nông” đối với quá trình 12 phát triển của đất nước.