Chương 1 VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỰ HÌNH THÀNH THỊ TRẤN VÂN CANH, HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Tổng quan về đô thị hóa 1. Khái niệm đô thị, đô thị hóa Định nghĩa về đô thị tại các quốc gia khác nhau thì khác nhau. Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người trên một cây số vuông hay 1.000 người trên một dặm vuông Anh.
Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét. Dùng ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị. Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá [53]. Theo các chuyên gia trong trung tâm định cư đô thị của Liên Hợp Quốc (Habitat) cho rằng: “Đô thị hóa là quá trình mà nhờ đó dân số của các quốc gia chuyển dịch từ các nghề nghiệp nông thôn sang nghề nghiệp đô thị vì thế mà diễn ra sự dịch chuyển từ các điểm dân cư nông thôn sang điểm dân cư đô thị ở các quy mô khác nhau.
Đô thị hóa không đơn thuần là vấn đề dân số học, nó là vấn đề bao trùm về sự phân bố. Đô thị hóa được hiểu như là sự biểu hiện của các mô hình phát triển các điểm dân cư” [49, tr.Alaev (Liên xô): “Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội, được gia tăng mạnh mẽ trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật, biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô 10 thị, sự tập trung hóa về dân cư trong các thành phố và đặc biệt là trong các thành phố lớn, sự phổ biến trong lối sống đô thị trong toàn bộ mạng lưới dân cư. Đô thị hóa là sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và các hoạt động của đời sống xã hội” [15, tr. Giáo sư Đàm Trung Phường đưa ra định nghĩa về đô thị hóa như sau: “Đô thị hóa là một quá trình chuyển dịch lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông - lâm - ngư - nghiệp, khai khoáng, phân tán trên một diện tích rộng khắp hầu như toàn quốc, sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ, thưong mại, tài chính, văn hóa xã hội , khoa học kĩ thuật.
Cũng có thể nói là chuyển từ hoạt động nông nghiệp (hiểu rộng) phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp gọi là đô thị” [43, tr. Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Thị Minh Đức thì cho rằng: “Đô thị hóa là quá trình chuyển hóa từ dạng phân bố dân cư nông nghiệp phân tán, sang dạng tổ chức quần cư tập trung bởi các hoạt động phi nông nghiệp với tỷ trọng ngày càng cao của dân số sống và làm việc trong các khu đô thị. Đô thị hóa bao quát hàng loạt những thay đổi về các mặt kinh tế xã hội gắn liền với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa kinh tế thị trường. Đô thị đảm nhận các chức năng trung tâm thương mại và phân bố sản xuất, các dạng phân phối và trao đổi.
Đô thị hóa gắn liền với những thay đổi trong thái độ ứng xử của con người trong sự chuyển hóa từ nếp sống, lối sống nông thôn sang lối sống, nếp sống đô thị” [49, tr. Như vậy, khái niệm đô thị hóa được nhiều tác giả trình bày rất đa dạng, bởi vì quá trình đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau. Hơn nữa các nhà khoa học xem xét, quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau. 11 Theo khái niệm của ngành địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian.
Các quá trình đô thị hóa có thể là sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Thông thường quá trình này không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn; cũng có thể là chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị hoặc như là sự nhập cư đến đô thị hoặc cũng có thể kết hợp của các yếu tố trên. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau xung quanh vấn đề này; song về nội hàm của khái niệm đều được hiểu là quá trình vận động chuyển hóa và biến đổi mang tính quy luật về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường cùng với những biến đổi về sự phân bố dân cư và nguồn lao động theo hướng phân tán tới tập trung, và từ tập trung ở mức độ thấp tới tập trung ở mức độ ngày càng cao hơn. Quá trình đô thị hóa có khả năng tạo ra những thay đổi căn bản về cơ cấu các ngành kinh tế, làm tăng quy mô của các hoạt động sản xuất kinh doanh, làm thay đổi cấu trúc của các hình thái quần cư, tiếp đó làm thay đổi về cấu trúc không gian của môi trường đô thị.
Ngay từ xa xưa thời kỳ cổ đại, nhiều đô thị đã xuất hiện trong đó một số đô thị có quy mô dân số lên tới hàng chục vạn dân. Nhiều công trình khảo cổ trên thế giới lại tìm thấy nhiều lớp di sản đô thị cổ xếp chồng trên cùng một vị trí chứng tỏ con người ở các thời đại khác nhau đều tập hợp và sống ở vị trí đó có nhiều thuận lợi. Nhìn chung, các đô thị cổ trên thế giới cũng như Việt Nam đều ở giao điểm của các đường giao thông quan trọng, ở dọc lưu vực sông, ở trung tâm các vùng châu thổ đất đai màu mỡ, hoặc ở những vị trí cần thiết cho việc bố phòng chống quân xâm lược. Thời kỳ mới hình thành, mọi cộng đồng dân tộc bao giờ cũng bắt đầu bằng các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như đất canh tác, 12 rừng, thủy hải sản, khoáng sản và tổ chức theo dạng xóm, bản phân tán.
Giao lưu giữa các cộng đồng phát triển mở rộng, một số trung tâm đô thị tách khỏi nông thôn để hoạt động dịch vụ, thương mại, lưu thông hàng hóa. Khi giao thông biển phát triển, ở châu Âu, châu Mỹ một số nước có điều kiện đi tìm đất mới, chiếm cứ thành thuộc địa, mở mang xây dựng thương cảng, khai thác vơ vét tài nguyên. Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế - xã hội, trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức lối sống xã hội. Những tiến bộ khoa học công nghệ là những lực tác động đến những tiến bộ về giá trị kinh tế, là cơ sở của những tiến bộ về giá trị xã hội và giá trị văn hóa để cấu thành một nền văn minh.
Do vậy, có thể nói “đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế, xã hội, văn hóa - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong đó dẫn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự thay đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” [15, tr. Các nhà nghiên cứu chia quá trình đô thị hóa thành ba thời kỳ: - Thời kỳ đô thị hóa tiền công nghiệp với chiếc xa quay biểu trưng của nền văn minh nông nghiệp, tương ứng với thời kỳ cách mạng kĩ thuật lần thứ I còn gọi là cách mạng thủ công nghiệp. - Thời kỳ đô thị hóa công nghiệp với chiếc máy hơi nước biểu trưng của nền văn minh công nghiệp, tương ứng với thời kỳ cách mạng kĩ thuật lần thứ II còn gọi là cách mạng công nghiệp. - Thời kỳ đô thị hóa hậu công nghiệp với chiếc máy điện tử biểu trưng của nền văn minh khoa học công nghệ/văn minh tin học, tương ứng với thời kỳ cách mạng kĩ thuật lần thứ III còn gọi là cách mạng khoa học - kĩ thuật.
13 Ở mỗi nền văn minh đều tạo ra một phong cách ăn, ở, làm việc và một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đồ thích hợp. Phân loại đô thị Phương pháp và tiêu chí phân loại đô thị của nhiều nước không giống nhau hoàn toàn, tùy đặc trưng hiện trạng của mỗi nước, tùy không gian và thời gian tiến hành quá trình đô thị hóa mà có phương pháp và tiêu chí phân loại đô thị khác nhau. Ở Việt Nam đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Thành phố được chia thành khu vực nội thành và khu vực ngoại thành; thị xã được phân chia thành khu vực nội thị xã và ngoại thị xã; thị trấn không có vùng ngoại thị trấn.
Tại Việt Nam, trước đây việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ. Theo Nghị định này, đô thị ở nước ta được phân làm 6 loại: Đô thị loại đặc biệt và đô thị từ loại I đến loại V. Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP, một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau: a, Có chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. b, Có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu của đơn vị là 65%.
c, Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị. d, Quy mô dân số toàn đô thị đạt ít nhất là 4. đ, Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị. 14 Riêng đối với các đô thị vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí đánh giá cho từng loại đô thị có thể thấp hơn nhưng phải đảm bảo mức tối thiểu bằng 70% mức tiêu chuẩn quy định.