CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE QUÁ TRÌNH PHÁT TRIEN SAN PHAM THE THANH TOAN 1.Tổng quan quá trình phát triển sản phẩm thé trên thé giới và Việt Nam 1. Tổng quan về quá trình phát triển sản phẩm thẻ trên thé giới: Thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại và hữu ích phổ biến tại các nước dang phát triển trên thế giới, là một trong những phương tiện góp phần quan trọng vào sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt. Thẻ thanh toán được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ khoa học tiên tiễn, việc thanh toán thẻ không chỉ thực hiện tại các ATM/EDC mà còn có thé thực hiện thanh toán qua Internet, điện thoại di động. Thẻ thanh toán ra đời từ những năm 1940 và đầu những năm 1950 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ.
Năm 1949, Frank McNamara đã tạo ra san phẩm thẻ Dinners Club, một loại thẻ cho phép chủ thẻ đi ăn các nhà hàng trong phạm vi nào đó của quốc gia và có thê thanh toán cho những bữa ăn đó vào mỗi cuối tháng.Thẻ Dinners Club là thẻ du lịch giải trí đầu tiên được phát hành vào năm 1949. Năm 1990, thé Dinners Club có 6,9 triệu người sử dụng trên thé giới với doanh số khoảng 16 tỷ USD. Đến tháng 12/2010, số lượng thẻ Dinners Club International đạt 59,26 triệu thẻ với doanh số trên 237 tỷ USD. Thẻ American Express (AMEX) ra đời năm 1958, hiện nay đang là tổ chức thẻ du lịch giải trí lớn nhất thé giới với tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần Dinners Club.
Năm 1990, tổng doanh thu chỉ khoảng 111,5 triệu USD với khoảng 32,5 triệu thẻ thì đến năm 1993 tổng doanh thu đã tăng lên 124 tỷ USD với khoảng 35,4 triệu thẻ. Đến cuối năm 2014, số lượng thẻ AMEX phát hành đạt 85. Thẻ JCB được phát hành lần đầu tại Nhật Bản vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa.Năm 1981, JCB đã vươn ra thế giới, mục tiêu chủ yếu là hướng vào lĩnh vực giải trí và du lịch. Năm 1990, doanh thu the JCB vào khoảng 16,5 tỷ USD với 17 triệu thẻ lưu hành.
Năm 1992, doanh thu tăng lên 30,9 ty USD với khoảng 27,5 triệu thẻ lưu hành, đến năm 2014 số lượng thẻ JCB phát hành đạt 62.73 triệu thẻ, được chấp nhận thanh toán trên 400.000 thiết bị tại 110 quốc gia trên thế giới. Năm 1951, dựa trên cơ sở hình thành hệ thong tin dung của John Biggins, ngân hang đầu tiên tham gia vào việc phát hành thẻ tin dụng là Franklin National ở Long Island — NewYork. Dé có thé sử dụng thẻ tín dung do ngân hang Franklin National phát hành, khách hang phải yêu câu ngân hàng này cấp cho một hạn mức tín dụng. Trường hợp được ngân hàng đồng ý, khách hàng sẽ được phát hành một thẻ tín dụng dé mua hàng hoá, dịch vụ.
Năm 1960, một ngân hang của Mỹ là Bank of American đã phát hành thẻ Bank American.Sau đó, ngân hang này cấp giấy phép cho các tô chức tài chính trong khu vực phát hành thẻ mang thương hiệu Bank Americard. Trước sự thành công của việc phát hành thẻ Bank Americard, một số ngân hàng phát hành thẻ khác của Mỹ đã hợp tác với nhau dé tìm giải pháp cạnh tranh lại các tổ chức đã phát hành thẻ Bank Americard. Năm 1966, 14 ngân hàng ở Mỹ quyết định thành lập một hiệp hội thẻ liên bang - gọi là “Inter Bank” để trao đổi các thông tin về thẻ tín dụng. Năm 1977, thẻ Bank Americard được đổi tên thành Visa và tổ chức Visa quốc tế được ra đời.Ngày nay, thẻ Visa đã trở thành thẻ thanh toán được sử dụng nhiều nhất trên thế giới.
Năm 2014, tổ chức thẻ quốc tế Visa với hơn 21.000 thành viên là các tổ chức tài chính ngân hàng đã trở thành hệ thống thanh toán cung cấp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ thẻ. Thẻ thanh toán Visa ngày càng phát triển và chiếm thị phần lớn trên thế giới với danh mục sản phẩm dịch vụ thẻ ngày càng đa dạng, đạt SỐ lượng tỷ thẻ các loại, có mặt tại 250 nước và vùng lãnh thổ khác nhau với mạng lưới thanh toán lớn nhất và rộng khắp trên toàn cầu với 60 triệu EDC; 3.000 máy ATM tại 100 nước trên thế giới. Năm 1966,thẻ MasterCard ra đời với tên gọi ban đầu là Master Charge do hiệp hội thẻ gọi tắt là ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các thành viên thế giới.Thẻ MasterCard ra đời và phát triển đã trở thành đối thủ cạnh tranh chủ yêu của thẻ Visa, góp phần đưa thị trường thẻ của thế giới ngày càng phát trién.Nam 1990, tổ chức thẻ quốc tế MasterCard có 5.000 thành viên, phát hành trên 178 triệu thẻ và trên 9 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ trên toàn thế giới. Đến 31/12/2014, số lượng thành viên của MasterCard đã lên tới 25.000 thành viên, phát hành 7,6 tỷ thẻ.
Thẻ thanh toán MasterCard được chấp nhận thanh toán tại 60 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ cũng như hàng trăm nghìn các webside trên toàn thé giới. Ngày nay, hai loại thẻ thanh toán là Visa và MasterCard là hai loại thẻ được sử dụng phô biến nhất và chiếm lĩnh thị trường thẻ liên hàng trên thé giới bao gồm cả số lượng thẻ phát hành và doanh số thanh toán thẻ. Thanh toán thẻ đã thực sự trở thành một phần của guồng máy kinh tế thế giới.Với các tiện ích của mình, chắc chắn thẻ thanh toán sẽ gặt hái được nhiều thành công trong thế kỷ XXI - Thế kỷ của công nghệ thông tin. Tổng quan về sản phẩm dịch vụ thẻ tại Việt Nam: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thé tất yếu của nền kinh tế thế giới.
Để tồn tại và phát triển đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng phải có chiến lược phát triển phù hợp. Việc phát triển và đa dạng hoá các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt với công nghệ hiện đại, dịch vụ đa năng và liên kết toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán qua ngân hàng là yêu cầu bức thiết đối với các NHTM.Su ra đời của các hình thức thanh toán thẻ là một tat yếu khách quan nhằm đa dạng hoá hình thức thanh toán, góp phần thay đổi thói quen không dùng tiền mặt cố hữu trong dân cư. Với ưu thế về thời gian thanh toán nhanh, tính an toàn, hiệu quả sử dụng và phạm vi thanh toán rộng, thẻ thanh toán đã và đang trở thành công cụ thanh toán phổ biến và có vị trí quan trọng trong các công cụ thanh toán tại các nước phát triển nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Trong giai đoạn 1996 — 2001, thị trường thẻ Việt Nam còn sơ khai, nhận thức của người dân về thẻ thanh toán còn hạn chế nên các sản phẩm thẻ chủ yếu chi đáp ứng nhu cau của tang lớp dân cư có thu nhập cao và phan lớn chỉ là thẻ quốc tế được sử dụng khi mua săm các hàng hoá dịch vụ ở nước ngoài.
Bắt đầu từ năm 2002, trên nền tảng hệ thống ngân hàng “lõi” (core banking) mới hiện đại được các ngân hàng đầu tư nâng cấp, các sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa lần đầu tiên được phát hành tại Việt Nam. Nhờ đó, người dân đã bắt đầu biết đến và làm quen với một phương tiện thanh toán tiện lợi, nhanh gọn, dễ đăng ký, dễ sử dụng hoạt động dựa trên cơ sở tài khoản cá nhân. Tuy nhiên, dich vụ thẻ thanh toán thực sự sôi động , bắt đầu chiều sâu từ những năm 2006-2007 khi Chính phủ ban hành Quyết định số 291/2006/TTg về triển khai dé án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 và đặc biệt sự ra đời của Quyết định số 20/2007/NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh các quy định về phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Điều này góp phần tạo một hành lang pháp lý rất quan trọng giúp thị trường có sự phát triển vượt bậc về hoạt đông thanh toán và phát hành thẻ, sỐ lượng các ngân hàng tham gia cung ứng dich vụ thẻ ngày càng gia tang với việc cho ra đời hàng loạt các sản pham thẻ tương đối hiện đại, nhiều tính năng, tiện ích đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Các số liệu thống kê cho thấy, số lượng thẻ đã có sự tăng trưởng khá nhanh. Năm 2011, toàn thị trường có khoảng gần 37,5 triệu thẻ thì đến năm 2014, con số đó đã lên tới 60,5 triệu thẻ tăng gần 1,7 lần. Số thương hiệu thẻ cũng tăng từ 95 thương hiệu lên khoảng 450 thương hiệu thẻ các loại. Trong tổng số 60,5 triệu thẻ (tính đến cuối năm 2014) hơn 90% là thẻ ghi nợ nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 3,6%, thẻ tín dụng quốc tế chiếm 6,4%.
Song song với hoạt động phát hành thẻ, hoạt động phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ và thanh toán thẻ cũng có sự phát triển khá ấn tượng. Hệ thống ATM và Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ - POS đã có sự tăng trưởng đáng kể, nhất là giai đoạn 201 1-2014. Nếu năm 2011, cả thị trường mới có hơn 11.000 POS thì đến năm 2014 đã lên tới hơn 153.200 POS, tăng gần 14 lần. Bên cạnh đó là 16.000 thiết bị ATM phục vụ hoạt động rút tiền thanh toán của chủ thẻ.
Việc chia sẻ mạng lưới và đây mạnh kết nối liên thông hệ thống ATM, POS cũng được tích cực thực hiện đã không chỉ góp phần gia tăng thuận tiện cho chủ thẻ mà còn góp phần nâng cao hiệu quả cho hoạt động thẻ của các NHTM, tiết kiệm chi phí đầu tư cho mỗi ngân hàng và toàn xã hội. 10 Đơn vị tính: Chiéc/ tỷ đồng 60,000,000 54,450,000 50,000,000 44,104,500 40,000,000 -————————————3Z”.905,368 34,489,719 30,000,000 ø Thẻ Nội địa Thẻ quốc tế 20,000,000 10,000,000 (Nguồn: Báo cáo Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam) 1. Thuận lợi, khó khan: - Thuận lợi: + Việt Nam với dân số đông và mức thu nhập bình quân đầu người có xu hướng ngày càng tăng là thị trường day tiềm năng cho các ngân hàng thực hiện cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện dai. + Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 và định hướng đề án đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho các NHTM nói chung và Agribank nói riêng.