CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THẺ 1.1 Giới thiệu về thẻ tín dụng 1. Khái niệm và phân loại 1. Khái niệm Tại khoản 3 điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/06/2016 Quy định về hoạt động thẻ ngân hàng nêu rõ “Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.” Như vậy có thể hiểu thẻ tín dụng là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp và hình thức này được thực hiện dựa trên uy tín. Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng.
Thay vào đó, ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch. Thẻ tín dụng cho phép khách hàng "trả dần" số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng. Tuy nhiên, chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn đã ghi rõ trên bảng sao kê hoặc nhiều hơn, hoặc trả hết món nợ.
Nhà cung cấp dịch vụ tín dụng sẽ tính lãi trên phần còn nợ (thường là với lãi suất cao hơn lãi suất của hầu hết những hình thức vay nợ khác). Nhiều tổ chức tài chính có thể sắp xếp việc trả nợ tự động, cắt tiền từ tài khoản ngân hàng của chủ thẻ (nếu có đủ tiền) để tránh trễ hạn trả nợ. Khi mua sắm, người dùng thẻ cam kết sẽ trả tiền cho nhà phát hành thẻ. Chủ thẻ thể hiện cam kết này bằng cách ký tên lên hóa đơn có ghi chi tiết của thẻ cùng với số tiền, hoặc bằng cách nhập một mật mã cá nhân (PIN).
Ngoài ra nhiều điểm bán hàng cũng chấp nhận cách thức xác minh qua điện thoại hoặc xác minh qua internet cho những giao dịch được gọi là giao dịch vắng thẻ hoặc vắng chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể rút tiền mặt từ tài khoản thẻ tín dụng (tiền mặt ứng trước) nếu muốn. Các điểm bán hàng sẽ sử dụng nhiều hệ thống điện tử để xác minh trong vòng vài giây tính hợp lệ của thẻ cũng như kiểm tra xem hạn mức tín dụng của thẻ còn đủ chi trả cho lần mua sắm đó không. Việc xác minh được thực hiện bằng một đầu đọc 9 thẻ kết nối vào ngân hàng thanh toán.
Đầu đọc thẻ sẽ đọc dữ liệu của thẻ từ dải từ tính hoặc từ bản vi mạch trên thẻ. Loại thẻ mới sử dụng bản vi mạch thường được gọi là thẻ chip hoặc thẻ EMV. Các đơn vị bán hàng trực tuyến thường sử dụng một các thức khác để xác minh tài khoản thẻ, trong đó chủ thẻ thường phải cung cấp thêm thông tin như mã số an ninh in ở mặt sau thẻ, địa chỉ chủ thẻ hoặc mật khẩu định trước. Phân loại Có nhiều phương pháp phân loại thẻ tín dụng, dưới đây là một số cách phân loại phổ biến: Phân loại theo hạng thẻ: để thuận lợi trong công tác quản lý khách hàng và dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng, có thể phân loại thẻ tín dụng theo hạng như hạng chuẩn (hạng Classic), hạng vàng (hạng Gold) và hạng bạch kim (hạng Platium).
Hạng thẻ càng cao thì yêu cầu dành cho chủ thẻ càng khắt khe nhưng đổi lại đặc quyền ưu đãi sẽ cao hơn. Căn cứ vào lịch sử tín dụng, mức thu nhập của khác hàng và bộ tiêu chí quy định hạn mức của từng hạng thẻ, ngân hàng sẽ cấp hạng mức cho khách hàng tương ứng với hạng chuẩn, hạng vàng, hạng bạch kim. Phân loại theo hình thức đảm bảo: Thẻ tín dụng được cấp dựa trên uy tín của khách hàng. Có hai hình thức là phát hành theo hình thức tín chấp hoặc có thế chấp.
Hình thức tín chấp là hình thức khách hàng cung cấp hồ sơ cá nhân, hồ sơ thu nhập để từ đó ngân hàng đánh giá và đưa ra hạn mức phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Đây là hình thức khá rủi ro cho ngân hàng vì trong trường hợp nếu khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc thu hồi. Hình thức có thế chấp (có tài sản bảo đảm) là hình thức khách hàng cầm cố các tài sản bảo đảm như sổ/thẻ tiết kiệm, phong tỏa tài khoản thanh toán hoặc cầm cố tài sản khác để đảm bảo cho việc phát hành thẻ tín dụng. Dựa trên tài sản cầm cố, ngân hàng sẽ đánh giá và cấp hạn mức theo tỷ lệ tài sản bảo đảm.
Đây là hình thức ít rủi ro cho ngân hàng vì trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng có thể thanh lý tài sản bảo đảm hoặc phong tỏa số tiền từ thẻ/sổ tiết kiệm để thanh toán cho món nợ của khách hàng. Tùy theo khẩu vị rủi ro của ngân hàng mà thẻ tín dụng sẽ cấp theo hình thức tín chấp hay thế chấp. 10 Phân loại theo chủ thể sử dụng: thẻ tín dụng cá nhân và doanh nghiệp. Thẻ tín dụng cá nhân là thẻ phát hành cho cá nhân có nhu cầu mở thẻ tín dụng.
Cá nhân muốn mở thẻ phải cung cấp đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu của ngân hàng để được mở thẻ tín dụng. Thẻ tín dụng cá nhân bao gồm thẻ chính và thẻ phụ. Thẻ chính được phát hành cho cá nhân gửi đề nghị lên ngân hàng để được phát hành thẻ cho chính họ. Thẻ phụ được phát hành khi thẻ chính gửi đề nghị đến ngân hàng để phát hành và chịu trách nhiệm đối với các khoản chi tiêu của thẻ phụ.
Thông thường thẻ chính sẽ phát hành thẻ phụ cho vợ/chồng, con, anh/chị/em hoặc những người có mối quan hệ thân thiết với nhau. Hạng thẻ phụ bằng hoặc thấp hơn thẻ chính. Hạn mức thẻ phụ do thẻ chính quyết định và không được cao hơn chính. Đến kỳ sao kê, thẻ chính sẽ nhận được sao kê thể hiện các giao dịch của cả thẻ chính, thẻ phụ và thẻ chính có trách nhiệm thanh toán dư nợ theo quy định của ngân hàng phát hành.
Thẻ tín dụng công ty được phát hành cho các tổ chức, công ty có nhu cầu sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của tổ chức đó. Tổ chức, công ty muốn phát hành thẻ sẽ uỷ quyền cho một cá nhân trong doanh nghiệp dùng thẻ (thường là Tổng giám đốc, giám đốc tài chính, cũng có thể là bất kỳ người nào trong công ty). Việc ủy quyền này phải kèm giấy ủy quyền hợp pháp theo chỉ định của ngân hàng phát hành. Phân loại theo kỹ thuật : Thẻ từ và thẻ chip.
Thẻ băng từ (Magnetic Card) được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại này đã dùng phổ biến trong vòng 20 năm nay, nhưng đã thể hiện một số nhược điểm như khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trên thẻ không được mã hóa, có thể đọc được dễ dàng, thẻ chỉ mang một lượng thông tin hạn chế không áp dụng được kỹ thuật mã. Do những nhược điểm này mà thẻ bị lợi dụng lấy cắp tiền. Thẻ thông minh/thẻ chip: đây là thế hệ thẻ mới nhất dựa trên kỹ thuật xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo, do đó ghi được nhiều thông tin hơn và an toàn hơn.
Thẻ chip khắc phục được hầu hết các nhược điểm của thẻ từ như: không gian lưu trữ lớn hơn, thông tin có thể được xóa và ghi lại nhiều lần, thông tin có thể được mã hóa nên độ bảo mật cao hơn. Thẻ chip được đánh giá là cực kỳ an toàn cho khách hàng vì khó bị làm giả và đánh cấp thông tin (VNBA, 2019). Thẻ chip còn được phân làm ba loại nhỏ gồm thẻ chip tiếp xúc, thẻ chip phi 11 tiếp xúc và thẻ chip giao diện kép. Với sự hiện đại và an toàn của mình, thẻ chip sẽ dần thay thế cho thẻ từ trong tương lai.
Phân loại theo phạm vi sử dụng: Thẻ tín dụng nội địa và thẻ tín dụng quốc tế. Thẻ tín dụng nội địa: là thẻ chỉ được sử dụng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, đồng tiền sử dụng là đồng tiền của đất nước đó. Thẻ tín dụng quốc tế: là thẻ cho phép thực hiện giao dịch với phạm vi quốc tế với bất kì loại tiền tệ ở bất kì quốc gia nào (NHNN, 2005). Hiện nay có nhiều tổ chức phát hành thẻ tín dụng quốc tế, trong đó có bốn tổ chức lớn là Visa, Master, JCB và American Express.
Khi sử dụng thẻ tín dụng quốc tế thì chủ thẻ sẽ phải chịu thêm các chi phí chuyển đổi ngoại tệ cho các chi tiêu nước ngoài. Thẻ tín dụng nội địa lãi suất thấp hơn so với thẻ tín dụng quốc tế do giới hạn về phạm vi thanh toán gói gọn trong lãnh thổ của quốc gia phát hành thẻ. Phân loại theo thương hiệu thẻ: Trong những năm gần đây, nhiều Ngân hàng đã liên kết với các đối tác khác nhau để phát hành thẻ tín dụng đồng thương hiệu ví dụ như: thẻ VietinBank JCB Vietnam Airline là thẻ đồng thương hiệu giữa VietinBank và hãng hàng không Vietnam Airline, Mobiphone – VPBank Visa Platinum, Jetstar – Eximbank JCB, Lotte Mart – MSB, Vietcombank – Vietravel Visa,.Hiện nay, theo NHNN, có hơn 100 loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu đang được lưu hành. Đây là hướng đi mới của các ngân hàng cũng như các thương hiệu lớn nhằm tận dụng mạng lưới khách hàng của nhau và cung cấp nhiều ưu đãi hơn đến khách hàng trong hệ sinh thái đã được ngân hàng và các đối tác xây dựng nên.
Phân loại thẻ theo mục đích sử dụng: Thẻ hoàn tiền (cashback): khi mua sắm và thanh toán qua thẻ, chủ thẻ sẽ được hoàn một phần tiền vào tài khoản thẻ tín dụng dựa trên giá trị đã thanh toán. Có thể xem đây là hình thức ưu đãi của ngân hàng đối với chủ thẻ thông qua hình thức chiết khấu phần trăm hay giảm giá của ngân hàng dành cho chủ thẻ. Thẻ tích dặm bay: là loại thẻ tín dụng ưu đãi quy đổi sang dặm bay khi thanh toán. Ứng với mỗi số tiền chi tiêu bằng thẻ, chủ thẻ sẽ được tích thưởng số dặm bay nhất định.
Từ số dặm bay tích lũy, chủ thẻ có thể quy đổi ra vé máy bay miễn phí, nâng hạng ghế hay sử dụng phòng chờ thương gia (tùy theo chính sách từng ngân 12 hàng). Hiện nay thẻ tích lũy dặm bay được triển khai ở nhiều ngân hàng như VietinBank, Vietcombank, CitiBank, HSBC, Vpbank (Smart Choice, 2019).