Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế - Chương 2: Các nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2012 - Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế thành phố Thái Nguyên đến năm 2020 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Các khái niệm Ngày nay, nền kinh tế thế giới luôn có sự biến động không ngừng. Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều tăng trƣởng và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu chiến lƣợc phát triển kinh tế học thƣờng hay đề cập đến tốc độ tăng trƣởng, phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và các nguồn lực.
Đây là cơ sở cần thiết để các nhà hoạch định chiến lƣợc có thể lựa chọn và quyết định phƣơng án có lợi nhất cho đất nƣớc. Tăng trưởng kinh tế “Tăng trưởng kinh tế theo nghĩa chung nhất là mức tăng lượng của cải (tài sản) trong một thời kì nhất định” [24]. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế này thích hợp với mọi qui mô kinh tế; toàn nền kinh tế, cấp tỉnh, huyện, ngành. Của cải tài sản có thể tính bằng hiện vật hoặc tiền.
Để biểu thị sự tăng trƣởng kinh tế ngƣời ta thƣờng dùng mức tăng trƣởng kinh tế: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc gia (GNI), hoặc tổng sản phẩm quốc nội và tổng thu nhập quốc gia tính theo đầu ngƣời… bên cạnh đó là một số các tiêu chí khác. Tăng trƣởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lƣợng của nền kinh tế, do đó tăng trƣởng kinh tế không phản ánh đƣợc sự biến đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân. Tăng trƣởng có thể cao nhƣng chất lƣợng cuộc sống có thể không tăng, môi trƣờng có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt. Mặc dù vậy, các chỉ tiêu đo lƣờng kinh tế vẫn đƣợc sử dụng làm thƣớc đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể và trở thành mục tiêu phấn đấu của một quốc gia, một vùng và một địa phƣơng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Phát triển kinh tế “Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thểm về qui mô sản lượng (tăng trưởng kinh tế), sự hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Nói cách khác, phát triển kinh tế là sự vận động theo chiều hƣớng tiến lên, bao hàm trong đó có sự thay đổi về lƣợng lẫn sự chuyển hóa về chất của một sự vật hiện tƣợng trong thời gian và không gian cụ thể.
Nếu sự tăng trƣởng kinh tế thể hiện chủ yếu sự thay đổi về lƣợng thì phát triển kinh tế không chỉ tập trung vào tăng trƣởng mà bao gồm cả những thay đổi về chất: về cơ cấu kinh tế và cuộc sống con ngƣời. Nhƣ vậy, phát triển kinh tế là sự tăng trƣởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lƣợng cuộc sống và bảo đảm bảo công bằng xã hội. Muốn phát triển kinh tế trƣớc hết phải có sự tăng trƣởng kinh tế. Nhƣng không phải sự tăng trƣởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế đòi hỏi phải bao hàm các yêu cầu cụ thể là: - Mức tăng trƣởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số. - Sự tăng trƣởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để bảo đảm tăng trƣởng bền vững. - Tăng trƣởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi ngƣời có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hƣởng thụ kết quả của tăng trƣởng kinh tế. - Chất lƣợng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con ngƣời và xã hội, bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
Cơ cấu kinh tế Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995): “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đổi ổn định hợp thành”. Từ định nghĩa này có thể nhấn mạnh đến hai nội dung chủ yếu: thứ nhất đó là tổng thể các bộ phận hợp thành và thứ hai. chúng có mối quan hệ hữu cơ tƣơng đối ổn định theo một tƣơng quan tỉ lệ nhất định. Về bản chất của cơ cấu kinh tế phải đƣợc thể hiện ở ba khía cạnh chính sau đây: - Phƣơng diện hệ thống: đó là các phạm trù tổng thể và bộ phận.
Một hệ thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ lớn bao gồm nhiều phân hệ (hệ thống nhỏ). Điều này không có nghĩa là chỉ cộng các phân hệ lại là có đƣợc hệ thống. Vì thế, cơ cấu kinh tế trƣớc hết là tổng thể với tƣ cách nhƣ một chỉnh thể. Trong chỉnh thể đó bao gồm nhiều bộ phận nhƣ các nhóm ngành (lĩnh vực) và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia.
- Trong tổng thể nền kinh tế đất nƣớc, các nhóm ngành (lĩnh vực) và các yếu tố cấu thành của hệ thống kinh tế đƣợc sắp xếp theo một số lƣợng và tỷ lệ nhất định. Việc sắp xếp nếu đƣợc thực hiện một cách khách quan, khoa học, phù hợp với xu thế chung của thời đại thì sẽ có cơ cấu kinh tế hợp lí, nền kinh tế phát triển nhanh và ngƣợc lại. - Các nhóm ngành (lĩnh vực) và các yếu tổ cấu thành hệ thống kinh tế không phải hoạt động đơn lẻ độc lập, mà có mối quan hệ tác động qua lại với nhau để làm sao có thể đạt đƣợc các mục tiêu đã định trƣớc. Nền kinh tế là sản phẩm của xã hội loài ngƣời.
Là kết quả của quá tình phân công lao động xã hội dƣới tác động mạnh mẽ của sức sản xuất ngày càng phát triển, các ngành kinh tế ra đời. Trên cơ sở đó hình thành cơ cấu kinh tế tự phát hay tự giác. Ở mỗi quốc gia, cơ cấu kinh tế là sự thể hiện ở chừng mực nhất định chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn nhất định. Do vậy chiến lƣợc phát triển kinh tế phải mang tính khách quan, khoa học, phù hợp với tình hình cụ thể đất nƣớc trong từng giai đoạn và phù hợp với xu thế của thời đại.
Cơ cấu kinh tế không phải là bất biến. Sự thay đổi của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của sức sản xuất và đặc điểm chính trị xã hội mỗi quốc gia trong thời kì lịch sử nhất định. Cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu có khả năng tái sản xuất mở rộng nền kinh tế, thỏa mãn các yêu cầu: phù hợp với các quy luật khách quan về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội; có khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để hội nhập kinh tế thế giới, tiến tới phát triển bền vững; gắn với xu thế chung của thế giới và khu vực. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, mối quan hệ biện chứng giữa qui mô và cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng.
Chúng phản ánh cả hai mặt số lƣợng và chất lƣợng của sự phát triển trong tổng thể thống nhất và chúng cần đƣợc nhận thức theo bản chất vận động và phát triển để phục vụ việc hoạch định chính sách và chỉ đạo thực hiện. Sự phát triển biện chứng tƣ duy kinh tế về chuyển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ dịch cơ cấu kinh tế ở nƣớc ta đã đạt đƣợc những điểm mới trong thời gian qua gắn với những diến biến thực tiễn. Để phân tích và xem xét cơ cấu của nền kinh tế, ngƣời ta chia nền kinh tế thành các góc độ sau: - Cơ cấu các ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tƣơng quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất.
Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia ngƣời ta thƣờng phân tích theo 3 nhóm ngành chính: Nhóm ngành nông nghiệp: Gồm các ngành nông lâm, ngƣ nghiệp. Nhóm ngành công nghiệp: Gồm các ngành công nghiệp và xây dựng. Nhóm ngành dịch vụ: Gồm thƣơng mại, du lịch… - Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ: Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu vùng – lãnh thổ lại đƣợc hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu vùng lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế.
Trong cơ cấu vùng – lãnh thổ kinh tế có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Loại cơ cấu này phản ánh những mối liên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một đất nƣớc trong hoạt động kinh tế. Thông thƣờng cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực kinh tế thành thị và nông thôn, khu vực kinh tế trọng điểm và phi trọng điểm, khu vực kinh tế đồng bằng và miền núi… - Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế: Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng - lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế.
Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ giữa con ngƣời trong quá trình sản xuất trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với các tƣ liệu sản xuất. Mô hình chung về số lƣợng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nƣớc bao gồm: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế này thƣờng không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng nhƣ trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.