Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở của vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm 1. Giá trị của rừng Theo quan điểm của Nghị định thư Kyoto, “rừng là hệ sinh thái có diện tích tối thiểu 0,05-1,00 ha; tỷ lệ che phủ tầng tán tối thiểu 10-30%; chiều cao cây cối tối thiểu 2-5m” [UNFCCC, 2001].
Ở đây, định nghĩa này hệ sinh thái được hiểu là một tập hợp quần thể năng động có một chức năng chung của các loài động vật, thực vật và cộng đồng các chất vi sinh vật cùng môi trường xung quanh chúng. Trên thế giới, mỗi quốc gia cũng có định nghĩa riêng về rừng. Quan trọng hơn cả là làm sao để định nghĩa của mỗi nước nhất quán theo không gian, thời gian và không mâu thuẫn với định nghĩa của Nghị định thư Kyoto. Luật Bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam 2004 đã đưa ra định nghĩa “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên” (Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2017, 2017).
Quan niệm khác với trước đây, lợi ích kinh tế của rừng đã vượt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình do rừng tạo ra để phục vụ cho nhu cầu đời sống, sản xuất và buôn bán của con người. Tổng giá trị kinh tế (gỗ, gủi, LSNG, dịch vụ MTR….) của rừng được phân thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. h 5 Giá trị sử dụng bao gồm những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài nguyên rừng, đó là: giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị tùy chọn. Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà rừng trực tiếp cung cấp, chúng ta có thể tính được giá cả cũng như khối lượng trên thị trường.
Giá trị sử dụng gián tiếp bao gồm những giá trị chủ yếu dựa trên những chức năng của hệ sinh thái, mang ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường. Nói cách khác, giá trị sử dụng gián tiếp bao gồm giá trị các dịch vụ do rừng tạo ra và được nhiều người, thậm chí là cả xã hội cộng đồng cùng hưởng lợi (điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, bảo vệ đất, hấp thụ và lưu giữ các bon, cảnh quan, vẻ đẹp thiên nhiên, đa dạng sinh học…). Giá trị tùy chọn bao gồm lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn lực hoặc một phần nguồn lực của rừng để sử dụng cho tương lai. Giá trị này có được từ nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái nói chung.
Giá trị phi sử dụng hay gọi là giá trị không sử dụng hoặc giá trị chưa sử dụng của rừng bao gồm những giá trị sử dụng tiềm năng có thể được phát hiện và sử dụng về sau. Hiểu được các giá trị này sẽ làm thay đổi được nhận thức của con người về vai trò và giá trị kinh tế của rừng tốt hơn, đặc biệt là giá trị sử dụng gián tiếp của rừng được coi là điểm then chốt hình thành REDD. (Theo MT Việt Nam, 2016 http://moitruongviet.vn/dich-vu-moi-truong-rung/). Dịch vụ môi trường rừng Có nhiều cách hiểu về dịch vụ môi trường rừng, cần thống nhất cách hiểu về môi trường rừng.
Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính Phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (Nghị định h 6 99/2010/NĐ-CP) đã nêu rõ: “Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng bao gồm các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của con người và xã hội, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, phòng hộ ven biển, điều tiết nguồn nước, phòng chống thiên tai, phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học, du lịch, hấp thụ và lưu giữ các bon, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác” (theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ). Khái niệm hiện nay trên thế giới về “dịch vụ môi trường”: chưa có một định nghĩa chuẩn nào về dịch vụ môi trường. Vì thế, để hiểu một cách gần gũi, dịch vụ môi trường là lợi ích mà tự nhiên có thể mang lại cho cộng đồng, các hộ gia đình và nền kinh tế.
UNFCCC đã định nghĩa và phân loại các dịch vụ môi trường được chia thành 4 nhóm: cung cấp, điều tiết, văn hóa và hỗ trợ. Dịch vụ môi trường rừng là bộ phận quan trọng bậc nhất của dịch vụ môi trường. Môi trường rừng là môi trường do rừng tạo ra cho xã hội và tự nhiên. Nó là loại môi trường có tầm quan trọng không thể thay thế trong hệ sinh thái chung.
Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010, Điều 3 đã nêu rõ: “Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân”. Dịch vụ môi trường thuộc loại dịch vụ tổng hợp bao gồm nhiều loại dịch vụ cụ thể. Nghị định 99/2010/NĐ-CP theo điều 4, các loại dịch vụ môi trường rừng gồm: i) Bảo vệ đất, chống xói mòn và bồi lấp lòng hồ, lòng sông, lòng suối; ii) Điều tiết và sản sinh nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội, iii) Hấp thụ và tích luỹ các bon của rừng, giảm khí thải gây hiệu rứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển bền h 7 vững; iv) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn ĐDSH các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng phục vụ nuôi trồng thủy sản (theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP). Rõ ràng, dịch vụ REDD thuộc nhóm thứ 3 trong hệ thống phân loại DVMTR theo Nghị định trên của Chính phủ.
Hiện nay, chi trả DVMTR đang được triển khai chi trả cho ba loại dịch vụ môi trường gồm giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và phòng hộ đầu nguồn.Mức chi trả DVMTR ở các quốc gia rất khác nhau, tùy thuộc vào nhận thức, năng lực thể chế, nguồn lực ngân sách nhà nước và năng lực chi trả. Khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp thì khó có thể tính được chính xác những gì bị mất đi về mặt môi trường. Chi trả DVMTR là một loại hàng hóa công cộng vì mang trong nó đầy đủ hai tính chất là không thể phân chia và không thể loại trừ. Nếu tiếp cận theo quan điểm chính sách mới, các DVMTR là hữu ích và có thể xác định được lợi ích, giá trị của nó để thiết lập cơ chế chi trả DVMTR.
DVMTR có thể đo đếm kết quả và xác định được người hưởng lợi dịch vụ nên có thể xác lập được cơ chế chi trả theo nguyên tắc thị trường (theo UNEP, 2005). Từ đó, khái niệm “Chi trả DVMTR” đã ra đời và từng bước được áp dụng ở các nước, tạo hiệu quả rất tốt về chính sách công và huy động nguồn lực tài chính mang lợi ích cho cộng đồng nói chung và đồng bào dân tộc miền núi nói riêng. Chi trả dịch vụ môi trường rừng “Chi trả DVMTR” là quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trường”. Khi đó, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụng đảm bảo sự trong lành về môi trường, hơn thế còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác động tích cực và đa dạng như phòng h 8 hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước, tạo điều kiện phát triển du lịch, phòng chống dịch bệnh, văn hóa và cải tạo đất… Ngày nay, định nghĩa về chi trả DVMTR được nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven.
Theo ông, “ Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quá trình giao dịch tự nguyện được thực hiện bởi ít nhất một người mua và một người bán dịch vụ môi trường rừng, khi và chỉ khi người bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trường rừng đó một cách hợp lý” (theo Wunder Seven, 2005). Tác giả Land-Mils và Porras (2002), Simpson và Sedjo (1996), cho rằng chi trả DVMTR là cách tiếp cận để khuyến khích các chủ quản lý rừng cung cấp DVMTR tốt hơn. Chi trả DVMTR giúp đền bù cho những người cung cấp DVMTR hoặc khuyến khích những người chưa quan tâm tham gia bảo vệ và phát triển rừng tham gia. Nghị định 99/2010/NĐ-CP đã đưa ra cách hiểu về chi trả DVMTR: “Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”.
Rõ ràng, chi trả DVMTR là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ công cộng là dịch vụ môi trường rừng. Giao dịch này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả (người sử dụng dịch vụ), đối tượng được chi trả (chủ rừng), loại dịch vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả… Để có thể thực hiện chi trả DVMTR, trước hết phải đánh giá được giá trị của dịch vụ này (lượng hoá được). Thứ nhất, còn nhiều người chưa hiểu được giá trị của sinh thái rừng, đặc biệt là những người còn đang chịu cảnh đói khổ, nguồn sống đang phụ thuộc vào rừng. Bên cạnh đó, một số người dân có cuộc sống khá hơn chỉ vì muốn tối đa hóa lợi nhuận nên chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt mà không nghĩ tới lợi ích lâu dài bền vững.
Thứ hai, việc đánh giá giá trị DVMTR sẽ cho phép các nhà tài chính phân tích chi phí và lợi ích để so sánh cái được và cái mất trong việc bảo vệ hay hủy hoại môi trường rừng, khi đó đưa ra các căn cứ để các nhà hoạch định chính sách và h 9 những nhà quản lý môi trường ra những quyết định đúng đắn. Mọi người khi đã hiểu về nghĩa vụ của toàn xã hội đối với các hoạt động bảo tồn hệ sinh thái rừng thì triển khai dễ dàng.