CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20. Dạng đầu tiên của thẻ thanh toán ra đời vào năm 1945. Đó là Charge –It của ngân hàng John Biggins (Mỹ), cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Sau đó, các đại lý nộp lại những phiếu này cho ngân hàng Biggins, ngân hàng thu tiền từ khách hàng và thanh toán cho đại lý.
Đây chính là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của ngân hàng Franklin National vào năm 1951. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới xuất hiện ở Mỹ như TripCharge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club. Đến năm 1958, thẻ Card Blanche, American Express ra đời và thống lĩnh đa số thị trường. Năm 1960, một ngân hàng lớn của Mỹ là Bank of America đã phát hành thẻ Bank Americard.
Để mở rộng qui mô hoạt động, ngân hàng này cấp giấy phép cho các định chế tài chính trong khu vực được phát hành thẻ Bank Americard. Năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của ngân hàng Bank of America, mười bốn ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên hàng quốc tế (Interbank Card Association –ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge. Vào năm 1977, thẻ tín dụng Bank Americard được đổi tên thành thẻ Visa. Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở thành Tổ chức Thẻ quốc tế lớn thứ 2 trên thế giới, sau Visa, góp phần đưa thị trường thẻ thanh toán ngày càng phát triển trên toàn cầu.
Sau Mỹ, ở các nước châu Âu và tiếp sau là châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, thẻ thanh toán được sử dụng rộng rãi với chất lượng ngày càng cao nhờ vào sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Ngày nay, ngoài hai loại thẻ Visa và Master đã và đang được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trên thế giới, thị trường thẻ còn có một số loại thẻ khác như: JCB, DINERS CLUB, AMEX… 1.2 Tổng quan về thẻ quốc tế 1.1 Những vấn đề cơ bản về thẻ quốc tế 1.1 Khái niệm thẻ quốc tế Thẻ quốc tế là loại thẻ có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế. Nó được hỗ trợ và quản lí trên toàn thế giới theo một hệ thống thống nhất và đồng bộ bởi các tổ chức tài chính lớn như Visa, Master Card… các công ty điều hành như Amex, JCB, Diners Club… Để phát hành thẻ quốc tế, tổ chức phát hành thẻ phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các qui định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do tổ chức thẻ quốc tế đó ban hành.2 Đặc điểm thẻ quốc tế Trên thị trường hiện nay, các loại thẻ quốc tế đang lưu hành với nhiều tên gọi và do nhiều ngân hàng khác nhau phát hành, tuy nhiên tất cả đều có hình dạng và cấu tạo tương đối giống nhau. Thẻ được làm bằng nhựa cứng (plastic), có 3 lớp, lõi thẻ là nhựa trắng cứng, hình chữ nhật với kích thước chuẩn hóa quốc tế 85mm x 54mm x 0,76mm, có 4 góc bo tròn.
Màu sắc thẻ có thể thay đổi tùy ngân hàng phát hành hay theo quy định thống nhất của mổi tổ chức thẻ.Hai mặt của thẻ quốc tế có những đặc điểm cấu tạo riêng, cụ thể như sau: Mặt trước của thẻ quốc tế: − Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ. − Biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế: tên và logo của tổ chức thẻ quốc tế (Visa, Master Card, JCB…), đặc điểm này dùng để phân biệt các loại thẻ quốc tế. Ví dụ: biểu tượng của Visa là hologam hình con chim bồ câu đang bay trong không gian ba chiều, biểu tượng của Master Card là hình quả địa cầu giao nhau với các lục địa… − Tên chủ thẻ: được dập nổi trên mặt thẻ, là tên cá nhân (hoặc tổ chức) được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 − Thời gian hiệu lực của thẻ: đây là khoảng thời gian ngân hàng phát hành cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ, thời gian này có thể là 1 năm, 3 năm, 5 năm, phụ thuộc vào loại thẻ và chính sách của từng ngân hàng.
− Số thẻ: được dập nổi trên thẻ, đây là số thẻ dành riêng cho chủ thẻ, số thẻ này được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau. Ví dụ: số thẻ Visa thường bắt đầu bằng số 4, thẻ Master bắt đầu bằng số 5… − Ngoài ra còn có thể có những yếu tố khác: các đặc điểm quy định về tính năng an toàn của thẻ như: ký hiệu riêng của từng tổ chức thẻ, hình chủ thẻ, … Mặt sau của thẻ gồm các đặc điểm sau: − Dãy băng từ: gồm 3 rãnh, chứa những thông tin đã được mã hóa theo chuẩn thống nhất như số tài khoản, tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực thẻ, mã số cá nhân của chủ thẻ (số PIN), số thẻ, loại thẻ, tên ngân hàng phát hành… Khi thực hiện giao dịch qua các thiết bị đọc thẻ, những dữ liệu này sẽ truyền về ngân hàng chấp nhận thẻ và thông qua mạng thông tin kết nối với các tổ chức thẻ quốc tế, dữ liệu này sẽ được chuyển đến ngân hàng phát hành để kiểm tra thông tin và cấp số chuẩn chi để thực hiện giao dịch. − Ô chữ ký dành cho chủ thẻ: việc ngân hàng phát hành yêu cầu chủ thẻ ký tên vào mặt sau của thẻ là để xác nhận đúng người sử dụng thẻ khi thực hiện giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Theo đó, các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn và trên thẻ xem có phù hợp không.
Băng chữ ký này được làm bằng nguyên liệu đặc biệt, nếu chữ ký bị tẩy xóa thì thẻ sẽ lập tức bị khóa và không thực hiện được giao dịch, lúc đó chủ thẻ yêu cầu ngân hàng cấp lại thẻ mới để sử dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Phân loại thẻ quốc tế Hiện nay trên thị trường thế giới cũng như Việt Nam, có rất nhiều loại thẻ khác nhau với những đặc điểm cũng như công dụng đa dạng và phong phú, có thể phân loại thẻ theo một số tiêu chí sau: Phân loại theo đặc tính kỹ thuật: Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại này được sử dụng phổ biến trong vòng hơn 20 năm nay nhưng trong thời đại khoa học công nghệ phát triển cao, nó cũng đã bộc lộ một số nhược điểm sau: khả năng bị lợi dụng do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được, người ta có thể đọc được thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính. Khu vực chứa thông tin của thẻ rất hẹp nên không thể áp dụng được các kỹ thuật mã hóa đảm bảo an toàn.
Do đó, ngày nay các ngân hàng trên thế giới đang chuyển dần sang phát hành thẻ EMV thay cho thẻ từ. Thẻ thông minh (EMV) hay còn gọi là Smart Card: đây là loại thẻ hiện đại nhất trên thế giới hiện nay, được áp dụng kỹ thuật gắn vào thẻ một bộ nhớ điện tử có khả năng lưu trữ và xử lý thông tin liên quan đến khách hàng, có cấu trúc giống như một máy vi tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chip” điện tử khác nhau. Nó có ưu điểm hơn thẻ từ là hạn chế việc sử dụng thẻ giả mạo, đảm bảo tính an toàn cao.
Tuy nhiên, chi phí để đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cũng rất cao. Phân loại theo tính chất thanh toán thẻ: Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Theo đó, khách hàng muốn sử dụng thẻ thì phải mở tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ và người sử dụng thẻ chỉ được thanh toán trong phạm vi số dư tài khoản của mình. Chủ thẻ khi sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ thì giá trị của những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ đồng thời ghi có vào tài khoản của đại lý chấp nhận thanh toán thẻ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc tại các ngân hàng bằng cách sử dụng mã số nhận dạng cá nhân (số PIN). Thẻ rút tiền mặt cho phép người sử dụng thẻ được rút số tiền tối đa bằng số tiền ký quỹ trong tài khoản và số tiền rút ra mỗi lần sẽ được khấu trừ dần vào số tiền ký quỹ. Thẻ rút tiền mặt có hai loại: - Loại 1: chỉ được rút tiền mặt tại các ATM của ngân hàng phát hành. - Loại 2: được sử dụng không chỉ rút tiền mặt tại máy ATM của ngân hàng phát hành mà còn có thể rút tiền mặt tại các ngân hàng có tham gia tổ hợp thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ, nhưng thông thường chủ thẻ phải chịu thêm phí.
Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ sử dụng một hạn mức tín dụng không trả lãi (ngân hàng phát hành thẻ sẽ căn cứ vào nhu cầu và khả năng trả nợ của chủ thẻ để cấp cho họ một hạn mức tín dụng, chủ thẻ chỉ được sử dụng thẻ để thanh toán trong hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn trả số tiền đã sử dụng cho ngân hàng đúng thời hạn quy định) để mua hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở, cửa hàng kinh doanh, khách sạn… chấp nhận loại thẻ này. Có hai loại thẻ tín dụng: - Thẻ vàng (gold card): đây là loại thẻ có hạn mức tín dụng cao, phục vụ thị trường cao cấp phù hợp với những khách hàng có mức thu nhập cao, tình hình tài chính lành mạnh và nhu cầu chi tiêu lớn. - Thẻ chuẩn (classic card): đây là loại thẻ có hạn mức tín dụng thấp hơn thẻ vàng, mang tính phổ biến và đại chúng, được sử dụng rộng rãi nhất, phù hợp với những khách hàng có mức thu nhập trung bình.