Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ngoại thành Hà Nội sở hữu khoảng ba phần tư diện tích tự nhiên là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng màu mỡ, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.245 mm và độ ẩm không khí xấp xỉ 79%, tạo điều kiện sinh thái lý tưởng cho canh tác nông nghiệp. Trong tiến trình đổi mới kinh tế, giá trị sản phẩm trên một hecta đất canh tác tại khu vực này đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt mốc 43,7 triệu đồng vào năm 2002. Tuy nhiên, sự vận hành của cơ chế thị trường và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã làm bộc lộ sâu sắc những hạn chế nội tại của mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ sự chuyển dịch phương thức tổ chức kinh tế tập thể, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình tự chủ, lấy dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ gia đình làm nòng cốt.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường, khảo sát toàn diện thực trạng chuyển đổi và phát triển của 282 hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội, từ đó nhận diện các nút thắt về vốn, công nợ, mô hình quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại các huyện ngoại thành Hà Nội gồm Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn trong giai đoạn 2002 - 2007, đồng thời cập nhật một số dữ liệu mở rộng giai đoạn 2008 - 2009. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để tái cấu trúc 250 hợp tác xã chuyển đổi, nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ, giải quyết việc làm và gia tăng thu nhập bền vững cho hàng chục vạn hộ nông dân vùng ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về hiệp tác lao động và kế hoạch hợp tác hóa. Cụ thể, lý thuyết hiệp tác lao động của Các Mác chỉ rõ bảy ưu thế vượt trội của sản xuất tập thể: san bằng chênh lệch cá nhân, tiết kiệm tư liệu sản xuất dùng chung, kích thích thi đua lao động, tạo ra sức sản xuất mới của tập thể, đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất, đáp ứng tính thời vụ khẩn trương và linh hoạt điều chỉnh không gian lao động. Đồng thời, ba điều kiện tiên quyết để phát huy ưu thế gồm: kế hoạch sản xuất phù hợp, đủ tư liệu sản xuất và năng lực chỉ huy quản lý hiệu quả.

Bên cạnh đó, luận văn vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin về nguyên tắc tự nguyện trong hợp tác hóa cùng học thuyết kinh tế nông hộ của Viện sĩ Alexander Chayanov, khẳng định hợp tác xã nông nghiệp không phủ nhận mà là sự mở rộng, bổ sung và phục vụ trực tiếp cho tính tự chủ của kinh tế hộ. Khung pháp lý nền tảng là Luật Hợp tác xã năm 1997 và Luật Hợp tác xã năm 2003 của Việt Nam, với bốn nguyên tắc cốt lõi: tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng. Bốn khái niệm chủ đạo xuyên suốt gồm: kinh tế tập thể, tính tự chủ của kinh tế hộ, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và phân phối thu nhập kết hợp theo vốn góp cùng mức độ sử dụng dịch vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát toàn bộ cỡ mẫu gồm 282 hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội hiện diện đến năm 2007 (bao gồm 250 hợp tác xã chuyển đổi, 32 hợp tác xã thành lập mới và xem xét 37 đơn vị thuộc diện giải thể), kết hợp phân tích trường hợp điển hình chuyên sâu tại Hợp tác xã Dịch vụ Tổng hợp Thống Nhất (huyện Từ Liêm). Phương pháp chọn mẫu là phương pháp kết hợp điều tra toàn thể theo số liệu thống kê ngành và chọn mẫu phân tầng có chủ đích nhằm đại diện cho hai vùng sinh thái kinh tế: vùng ven đô chịu áp lực đô thị hóa cao và vùng thuần nông truyền thống.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp chính thức từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Thành phố Hà Nội và Tổng cục Thống kê trong khung thời gian 2002 - 2007, bổ sung các báo cáo cập nhật năm 2008 - 2009, kết hợp tư liệu so sánh quốc tế từ bốn quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ). Luận văn lựa chọn phương pháp kinh tế chính trị học mác-xít, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích thống kê kinh tế, tổng kết thực tiễn và so sánh thể chế. Lý do lựa chọn là nhằm đánh giá đúng bản chất quan hệ sản xuất, sự vận động của quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong sự tương thích với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp Thủ đô.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về sự chuyển dịch cơ cấu tổ chức, có 241 trên tổng số 250 hợp tác xã chuyển đổi hoạt động theo mô hình mỗi hộ một người đại diện, chiếm tỷ lệ áp đảo 96,4% số hợp tác xã chuyển đổi và tương đương 85,4% tổng số 282 hợp tác xã ngoại thành năm 2007. Ngược lại, mô hình toàn dân chỉ còn duy trì ở 9 hợp tác xã (chiếm 3,1% tổng số hợp tác xã) với quy mô 6.721 xã viên, điển hình như Hợp tác xã Yên Mỹ với 1.206 xã viên và Hợp tác xã Đồng Trì với 1.267 xã viên.

Thứ hai, thực trạng tích lũy vốn và áp lực công nợ tồn đọng diễn biến phức tạp. Quy mô vốn bình quân một hợp tác xã tăng từ 427,25 triệu đồng năm 2002 lên 834,807 triệu đồng năm 2007. Tuy nhiên, vốn cố định chiếm tới 61,2% (đạt 510,227 triệu đồng/hợp tác xã), chủ yếu là tài sản trạm bơm, nhà kho, đường dây hạ thế đã khấu hao nhiều năm; vốn lưu động chỉ chiếm 38,8% (đạt 324,580 triệu đồng/hợp tác xã). Toàn bộ 241 hợp tác xã theo mô hình đại diện hộ gánh khoản nợ phải thu lên tới 32.804,679 triệu đồng (bình quân 136,119 triệu đồng/hợp tác xã), trong đó 48,3% là nợ khó đòi bàn giao từ thời kỳ hợp tác xã cũ. Tổng nợ phải trả là 23.122,263 triệu đồng (bình quân 95,943 triệu đồng/hợp tác xã), cá biệt có đơn vị như Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Núi Đôi (huyện Sóc Sơn) nợ thủy lợi phí tới 1.179 triệu đồng.

Thứ ba, cơ cấu ngành nghề dịch vụ có sự phân hóa sâu sắc. Năm 2007, tổng doanh thu từ dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đạt 55.731,261 triệu đồng với tỷ suất sinh lời rất thấp; trong đó 93,3% số hợp tác xã thực hiện dịch vụ tưới tiêu, 55,6% làm bảo vệ thực vật, 21,1% làm dịch vụ thú y và 13,5% làm dịch vụ làm đất. Dịch vụ cung ứng điện từng là nguồn thu chủ đạo chiếm 66,8% số hợp tác xã với doanh thu 129.477,23 triệu đồng và lợi nhuận 8.612,678 triệu đồng nhưng đã phải chuyển giao toàn bộ cho ngành điện quản lý từ tháng 9 năm 2007. Nhóm dịch vụ dân sinh ven đô (nước sạch, vệ sinh môi trường) đạt doanh thu 8.465,79 triệu đồng.

Thứ tư, sự cải thiện chất lượng hoạt động theo sáu tiêu chí đánh giá của ngành nông nghiệp thể hiện rõ rệt: năm 2005 tỷ lệ hợp tác xã xếp loại khá đạt 25%, loại trung bình chiếm 55% và loại yếu chiếm 20%; đến năm 2007, tỷ lệ loại khá tăng lên 36%, loại trung bình giảm còn 47% và loại yếu giảm xuống 17%. Mô hình chuyển đổi thành công vượt bậc là Hợp tác xã Thống Nhất: diện tích canh tác giảm từ 200 ha xuống 52 ha do đô thị hóa nhưng đã năng động phát triển 16 loại hình dịch vụ; doanh thu tăng từ 7.302 triệu đồng năm 2006 lên 9.492 triệu đồng năm 2007 và đạt 12.328 triệu đồng năm 2008; lợi nhuận phân bổ 49% vào quỹ chung và chia 51% cho 960 xã viên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của 37 hợp tác xã bị giải thể bắt nguồn từ việc thất lạc hồ sơ địa chính trong quá trình đô thị hóa, nợ thuế dây dưa và biến động nhân sự xã viên đi làm ăn xa. Hiện tượng già hóa xã viên ở mô hình đại diện hộ (như tại huyện Gia Lâm có tới 58% tổng số xã viên đã vượt quá tuổi lao động) làm suy giảm tính năng động trong ứng dụng khoa học kỹ thuật.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ cơ cấu tài sản cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng khi 61,2% giá trị tài sản nằm ở cơ sở hạ tầng cũ kỹ không sinh lời trực tiếp, trong khi bảng phân loại chất lượng 2005 - 2007 minh chứng bước chuyển dịch tích cực nhưng tốc độ còn chậm (loại khá chỉ tăng 11% sau hai năm). Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Chử Văn Lâm năm 2006 và Giáo sư Tiến sĩ Lương Xuân Quỳ năm 2005, khẳng định hợp tác xã nông nghiệp bắt buộc phải chuyển hẳn từ chức năng quản lý chỉ huy sang chức năng cung ứng dịch vụ hỗ trợ chuỗi giá trị nông hộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và xử lý dứt điểm công nợ tồn đọng: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp cùng Sở Tài chính và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng phương án khoanh nợ, xóa 48,3% các khoản nợ khó đòi hình thành trước thời điểm chuyển đổi; hoàn tất thủ tục giải thể pháp lý dứt điểm cho 37 hợp tác xã ngừng hoạt động trước quý IV năm 2010 nhằm lành mạnh hóa thị trường tài chính vi mô.

Thứ hai, đa dạng hóa ngành nghề và mở rộng dịch vụ kinh tế ven đô: Ban Quản trị các hợp tác xã cần chủ động khảo sát thị trường, chuyển đổi từ 4 khâu dịch vụ nông nghiệp truyền thống sang phát triển chuỗi 10 đến 15 dịch vụ tổng hợp (kinh doanh chợ, cung cấp nước sạch sinh hoạt, thu gom rác thải, giết mổ gia súc tập trung, cho thuê bến bãi); mục tiêu đặt ra là duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ổn định từ 10% đến 15% mỗi năm.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực cán bộ và trẻ hóa nguồn nhân lực: Liên minh Hợp tác xã Thành phố Hà Nội chủ trì mở các lớp đào tạo chuyên sâu về kỹ năng quản trị kinh doanh, kế toán kiểm toán theo chuẩn mực mới cho 100% cán bộ chủ nhiệm, kế toán trưởng; vận động chuyển giao quyền đại diện hộ cho lực lượng lao động trẻ trực tiếp sản xuất nhằm hạ tỷ lệ xã viên quá tuổi lao động xuống dưới 30% trong lộ trình ba năm 2010 - 2013.

Thứ tư, thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính và tăng cường khuyến nông: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã triển khai các gói vay tín dụng ưu đãi trung hạn, chấp nhận thế chấp bằng phương án kinh doanh khả thi thay vì chỉ dựa vào tài sản đất đai; Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đẩy mạnh chuyển giao công nghệ sinh học và bao tiêu nông sản an toàn cho 100% các xã điểm ven đô.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã, Ủy ban nhân dân các quận, huyện tìm thấy cơ sở thực tiễn để ban hành quy chế xử lý tài sản công nợ, chính sách hỗ trợ mặt bằng và khung pháp lý chuyển giao hạ tầng kỹ thuật nông thôn.

Nhóm ban giám đốc, hội đồng quản trị và kế toán trưởng các hợp tác xã nông nghiệp khai thác trực tiếp bài học kinh nghiệm quản trị từ mô hình 16 dịch vụ của Hợp tác xã Thống Nhất, phương pháp phân bổ quỹ phát triển 49% và chia lãi 51% nhằm nâng cao phúc lợi, thu hút xã viên góp vốn thực chất.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật tham khảo mẫu mực về phương pháp luận đánh giá quan hệ sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi thể chế.

Nhóm doanh nghiệp nông nghiệp, hiệp hội ngành hàng và tổ chức tài chính vi mô tiếp cận bức tranh toàn cảnh về nhu cầu vốn, khả năng cung ứng dịch vụ đầu vào và mạng lưới phân phối nông sản an toàn để thiết lập liên kết bốn nhà bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất khác biệt lớn nhất giữa hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới và hợp tác xã kiểu cũ là gì? Hợp tác xã kiểu mới chuyển đổi từ cơ chế chỉ huy sản xuất tập trung, làm công điểm bình quân sang vai trò tổ chức dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ tự chủ. Xã viên là chủ thể sản xuất độc lập, được phân phối thu nhập công bằng dựa trên vốn góp và mức độ sử dụng dịch vụ theo Luật Hợp tác xã năm 2003.

Tại sao mô hình đại diện hộ lại chiếm tới 85,4% tổng số hợp tác xã ngoại thành Hà Nội? Mô hình này quy định mỗi gia đình cử một người đại diện, giúp tinh giản tổ chức quản lý, đẩy nhanh tốc độ thanh toán dịch vụ và phù hợp tập quán canh tác nông hộ. Dù vậy, mô hình gặp hạn chế về tình trạng xã viên cao tuổi và khó xác định quyền biểu quyết khi thay đổi người tham dự đại hội.

Nguyên nhân căn bản khiến 37 hợp tác xã nông nghiệp tại Hà Nội chậm hoàn tất thủ tục giải thể là gì? Khó khăn lớn nhất nằm ở vướng mắc địa chính đất đai bị thất lạc giấy tờ hoặc bị lấn chiếm qua nhiều thời kỳ đô thị hóa, gánh nặng nợ thuế ngân sách không có nguồn thanh toán và tình trạng hồ sơ nhân sự lỏng lẻo khi nhiều xã viên chuyển đi nơi khác làm ăn.

Việc bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện vào tháng 9 năm 2007 tác động thế nào đến hợp tác xã? Dịch vụ điện từng mang lại doanh thu 129.477 triệu đồng và lợi nhuận 8.612 triệu đồng cho 66,8% số hợp tác xã. Khi chuyển giao, các hợp tác xã bị sụt giảm nguồn thu cốt lõi, buộc phải chuyển hướng cấp bách sang phát triển dịch vụ dân sinh và vệ sinh môi trường.

Kinh nghiệm quốc tế nào từ Nhật Bản và Trung Quốc có giá trị ứng dụng cao nhất cho Hà Nội? Kinh nghiệm phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng của Nhật Bản cung ứng trọn gói từ tín dụng, vật tư đến bảo hiểm nông nghiệp, kết hợp mạng lưới khuyến nông và trạm chế biến tiêu thụ sâu rộng của hợp tác xã cung tiêu Trung Quốc.

Kết luận

  • Luận văn luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan và bảy ưu thế hiệp tác lao động theo quan điểm kinh tế chính trị Mác - Lênin trong nông nghiệp ngoại thành.
  • Khảo sát thực chứng toàn diện 282 hợp tác xã, nhận diện mô hình đại diện hộ chiếm 85,4% và chỉ rõ điểm nghẽn 48,3% nợ khó đòi tồn đọng.
  • Phân tích case study tiêu biểu Hợp tác xã Thống Nhất thành công mở rộng 16 ngành nghề dịch vụ, đạt mức doanh thu 12.328 triệu đồng vào năm 2008.
  • Xây dựng hệ thống bốn giải pháp đồng bộ về xử lý dứt điểm thể chế tài chính, trẻ hóa nhân lực quản trị, mở rộng dịch vụ dân sinh và hỗ trợ tín dụng vi mô.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học giá trị mở đường cho định hướng quy hoạch mạng lưới hợp tác xã Thủ đô giai đoạn mở rộng địa giới hành chính.

Trong lộ trình tiếp theo, các địa phương cần khẩn trương số hóa dữ liệu quản trị, hoàn thành việc cấp quyền sử dụng đất cho các hợp tác xã và nhân rộng mô hình kinh tế dịch vụ tổng hợp. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thúc đẩy kinh tế tập thể nông nghiệp phát triển hiện đại và bền vững.