mở đầu và kết thúc đúng hạn định mới đạt hiệu quả cao. Thứ bảy, có thể mở rộng hoặc thu hẹp không gian trên đó lao động được tiến hành tuỳ theo tính chất công việc. Tác dụng hai mặt đó cho phép hạn chế được hư phí. Nhưng những ưu thế trên chỉ được phát huy khi tuân thủ ba điều kiện sau đây: Một là, có kế hoạch và phương hướng sản xuất phù hợp.
Hai là, có đủ tư liệu sản xuất làm cơ sở vật chất cho sự hợp tác. Quy mô hợp tác phụ thuộc vào quy mô tập trung tư liệu. Ba là, phải có sự chỉ huy và kế toán tức là quản lý tốt. Những ưu thế và điều kiện nói trên cũng có thể vận dụng vào phát triển hợp tác xã nông nghiệp, mặc dù nông nghiệp có những nét đặc thù so với công nghiệp.
Hợp tác xã đã phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường. Năm 1726, 28 thợ dệt ở Anh đã thành lập một hội làm vải. Đó là một trong những hợp tác xã đầu tiên trên thế giới. Hiện nay, liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) đã có tới 230 tổ chức quốc gia và quốc tế của trên 100 nước tham gia.
Tổ chức hợp tác xã của Việt Nam tham gia ICA từ năm 1991. Nghiên cứu sự phát triển của hợp tác xã, V.Lênin đã nhấn mạnh “Nếu không học tập sử dụng được kỹ thuật, văn hoá và bộ máy do nền văn hoá tư sản, 11 nền văn hoá tư bản chủ nghĩa tạo ra thì sẽ không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội. Trong số các bộ máy đó có hợp tác xã; trình độ phát triển tư bản chủ nghĩa trong nước càng cao bao nhiêu thì hợp tác xã càng được phát triển bấy nhiêu” [16, tr. “Việc tổ chức nông dân vào hợp tác xã để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là để chế biến các sản phẩm nông nghiệp, để cải tạo ruộng đất của nông dân, để giúp đỡ thủ công nghiệp phát triển… phải được sự giúp đỡ rộng rãi của nhà nước về mặt tài chính cũng như về mặt tổ chức” [15, tr.
Ở nước ta trên 50 năm xây dựng và phát triển hợp tác xã nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tích nhưng cũng còn nhiều nhược điểm. Trước đổi mới hợp tác xã theo mô hình tập thể hoá toàn bộ tư liệu sản xuất phù hợp với thời chiến đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Nhưng khi chuyển sang kinh tế thị trường các hợp tác xã đó không còn thích hợp nữa nên hoặc là bị giải thể hoặc là phải chuyển đổi theo cơ chế thị trường, đồng thời đã xuất hiện những hợp tác xã kiểu mới. Việc thực hiện hình thức khoán 10 đề cao tính tự chủ của hộ nông dân đòi hỏi phải đổi mới việc tổ chức và quản lý hợp tác xã nông nghiệp.
Sự phát triển kinh tế hàng hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt. Để tồn tại và phát triển, tiêu thụ được hàng hoá những hộ kém thế lực về kinh tế phải hợp tác, giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Đặc điểm của hợp tác xã trong kinh tế thị trƣờng Hợp tác xã là một loại hình kinh tế hợp tác, là tổ chức kinh tế tự chủ có vốn, quỹ chung; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tư cách pháp nhân. Các mô hình hợp tác xã đều được thành lập trên tinh thần trợ giúp, tự chịu trách nhiệm, dân 12 chủ, bình đẳng, công bằng, tự nguyện và đoàn kết.
Mặc dù hợp tác xã cũng là đơn vị kinh doanh song mục tiêu cơ bản của những xã viên khi thành lập hoặc liên kết thành một hợp tác xã là để thực hiện những hoạt động mà từng cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện được hoặc thực hiện được nhưng khó khăn và kém hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội nhờ sức mạnh của lao động hiệp tác của các xã viên. Đây vừa là một tổ chức kinh tế, vừa là một tổ chức xã hội. Nó được thành lập nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích của người lao động; đồng thời nó là một hiệp hội của những người cùng nghề nghiệp, cùng cảnh ngộ liên kết lại để giúp đỡ nhau. Như vậy, hợp tác xã là sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 và đặc điểm kinh tế xã hội Việt Nam, Luật hợp tác xã sửa đổi năm 2003 đã đưa ra định nghĩa về hợp tác xã tại Điều 1 như sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. 13 Trong điều kiện nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các hợp tác xã trong cơ chế mới đã có sự thay đổi về đặc điểm so với trước đây. Trong cơ chế cũ hợp tác xã nông nghiệp tồn tại phổ biến và chủ yếu dưới hình thức các xí nghiệp tập thể: tập thể hoá tư liệu sản xuất, tiến hành sản xuất tập trung, biến xã viên trong hợp tác xã thành người lao động làm công.
Còn xu thế hiện nay là các hợp tác xã thực hiện chức năng dịch vụ, hỗ trợ cho kinh tế hộ là chính nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho kinh tế hộ. Từ chỗ phủ nhận hộ gia đình, các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam đã và đang đi theo hướng mà Traianốp - một viện sĩ nông học ở Nga thời Cách mạng tháng Mười đã chỉ ra: Hợp tác xã nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân tự chủ, phục vụ cho nó. Vì thế, thiếu kinh tế hộ nông dân thì hợp tác xã sẽ không có ý nghĩa gì cả. Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hộ chính là tiền đề để thiết lập các quan hệ hợp tác về nhiều mặt.
Đến lượt mình, bằng các hoạt động hỗ trợ dịch vụ có hiệu quả hợp tác xã giúp kinh tế hộ khắc phục được những thách thức từ thiên nhiên, từ thị trường, tăng cường địa vị của họ trên thương trường. Hoạt động của hợp tác xã chính là sự kéo dài và mở rộng hoạt động của hộ gia đình. Quá trình đổi mới hợp tác xã được tiến hành một cách đồng bộ trên các mặt: quan hệ sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối nhằm từng bước tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Một là, đổi mới quan hệ sở hữu: Trong mô hình hợp tác xã kiểu cũ, một đặc điểm quan trọng quyết định các quan hệ khác là chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất.
Khi đổi mới các 14 hợp tác xã đã tiến hành đánh giá lại giá trị tài sản, tiền vốn của hợp tác xã. Sau khi trừ đi phần vốn công nợ của nhà nước, thanh toán các khoản nợ và để lại quỹ chung để duy trì phát triển hợp tác xã, còn lại xác định giá trị cổ phần của từng xã viên trên cơ sở vốn góp ban đầu khi vào hợp tác xã và số năm tham gia hợp tác xã, những xã viên ra khỏi hợp tác xã được trả lại vốn cổ phần. Nhiều hợp tác xã khi chuyển đổi đã xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi nên đã huy động được vốn góp của xã viên. Như vậy, sở hữu về tư liệu sản xuất trong hợp tác xã kiểu mới vừa bao gồm sở hữu chung của hợp tác xã vừa gồm sở hữu của các xã viên.
- Hai là, đổi mới tổ chức quản lý trong hợp tác xã: Trong cơ chế quản lý hợp tác xã kiểu cũ quan hệ giữa xã viên và hợp tác xã thực tế là quan hệ phụ thuộc, xã viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất và trở thành người làm công theo sự điều hành tập trung của hợp tác xã, tính chất hợp tác đích thực trong hợp tác xã không còn. Đặc trưng của các hợp tác xã đổi mới là các hộ gia đình được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, quan hệ giữa hộ gia đình với hợp tác xã được chuyển từ quan hệ hành chính mệnh lệnh sang quan hệ hợp đồng bình đẳng và thoả thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất kinh doanh. Trong các hợp tác xã đổi mới thì hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ xã viên mà chỉ diễn ra ở từng khâu công việc, từng công đoạn, hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng hộ. Quyền làm chủ của xã viên được phát huy, xã viên tham gia quyết định những công việc quan trọng của hợp tác xã như phương án sản xuất kinh doanh, phương án phân phối thu nhập.
Nguyên tắc bầu cử và biểu quyết được thực hiện bình đẳng, mỗi xã viên một phiếu bầu không phân biệt số vốn góp nhiều hay ít. 15 - Ba là, đổi mới quan hệ phân phối: Trong các hợp tác xã kiểu cũ, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân nên không khuyến khích được người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu gắn bó với hợp tác xã. Trong quá trình đổi mới, các hợp tác xã đã thực hiện việc phân phối trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi.