Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thương mại cổ phần. Chương 2: Thực trạng pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1:NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÀ O BÁN CỔ PHIẾU RA CÔNG CHÚNG CỦ A NGÂN HÀ NG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm, đặc điểm chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thƣơng mại cổ phần.1 Khái niệm, đặc điểm cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần.
Sự ra đời của cổ phiếu là một thành tựu to lớn đối với hoạt động kinh doanh và là cơ sở quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất. Có thể thấy rằng cổ phiếu gắn chă ̣t với những phát minh lớn ở cuố i thế kỉ XIX và trong suố t thế kỉ XX đầ y sôi đô ̣ng, cổ phiế u tiế p tu ̣c là cái phao nâng đỡ con tàu tiế n bô ̣ của loài người trên con ̀ cái mới. Giáo sư Wolfran Engel trong tác phẩm “Thi ̣ trường chứng khoán đường tim và công ty cổ phần” đã khẳ ng đinh ̣ “Không có sáng k iế n tìm ra cổ phầ n thì không thể nghi ̃ đế n phát triển. Cổ phầ n đã trở thành công cụ để chuyển mọi dành dụm trong tầ ng lớp dân cư vào đầ u tư sản xuấ t.
Cổ phầ n tạo điề u kiê ̣n tách bạch chức năng của nhà kinh doanh với chứ c năng của nhà cấ p vố n. Một người có tài kinh doanh có thể trở thành nhà kinh doanh kể cả khi anh ta không giàu”. Cổ phiế u là mô ̣t trong các loa ̣i chứng khoán cơ bản , gắ n chă ̣t với sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần. Trên thế giới có rấ t nhiề u cách hiể u về cổ phiế u : _ Theo Francis Lemenier trong cuố n “Nguyên lý thực hành luật thương mại , luật kinh doanh” về L uâ ̣t Pháp thì cổ phiế u là chứng thư xác nhâ ̣n quyề n sở hữu mô ̣t tài sản nhấ t đ ịnh nên được coi là tài sản thực sự.
Cổ phiế u tồ n ta ̣i dưới da ̣ng chứng thư , có mệnh giá , thời ha ̣n hiê ̣u lực ít ra bằ ng thời ha ̣n tồ n ta ̣i của doanh nghiê ̣p ghi trong điề u lê ̣. _ Theo Luật Chứng khoán Cộng hòa Belarus ngày 12 tháng 3 năm 1992thì: “Cổ phiếu là một chứng khoán, chứng nhận quyền của người sở hữu đối với phần tiền đóng góp trong tài sản của công ty, cho phép người này nhận phần chia lợi nhuận của công ty là cổ tức và tham gia quản lý công ty”. _ Theo Luâ ̣t Chứng khoán Việt Nam năm 2006, cổ phiế u là loa ̣i chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. 6 _ Theo Điề u 85 Luâ ̣t Doanh nghiê ̣p 2005: Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.
Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; b) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; c) Số lượng cổ phần và loại cổ phần; d)Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; đ) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của cổ đông là tổ chức đối với cổ phiếu có ghi tên; e) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần; g) Chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty; h) Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu; i) Các nội dung khác theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật này đốivới cổ phiếu của cổ phần ưu đãi. Như vậy có thể thấy cổ phiế u tồ n ta ̣i dưới dạng xác định được như chứng chỉ, bút toán ghi sổ… xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 40/2011/TT-NHNN quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng:“Ngân hàng thương mại cổ phần làngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần”.
Vậy nên trong luận văn này cổ phiếu của NHTMCP sẽ được nghiên cứu dưới góc độ cổ phiếu của công ty cổ phần tuy nhiên vẫn có những đặc điểm riêng biệt của NHTMCP. Theo Khoản 4 Điề u 2 Quyế t đinh ̣ số 1122/2001/QĐ-NHNN của NHNN ban hành ngày 4 tháng 9 năm 2001 Quy định về cổ đông , cổ phần, cổ phiếu và vốn điều 7 lệcủa Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và nhân dân và Quyế t đinh ̣ số 20/2008/QĐ – NHNN ban hành ngày 4 tháng 7 năm 2008 về viê ̣c sửa đổ i bổ sung mô ̣t số điề u của Quy đinh ̣ về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệcủa Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và nhân dân thì: “Cổ phiếu là chứng chỉ do Ngân hàng thương mại cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của Ngân hàng thương mại cổ phần đó. Cổ phiếu của Ngân hàng thương mại cổ phần có thể có ghi tên và không ghi tên theo qui định của Điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần”. Điề u lê ̣ của các NHTMCP cũng thố ng nhấ t vớ i quy đinh ̣ này , cụ thể như Điều lệ NHTMCP Techcombank, tại Mục 1 Điề u 1 Điể m o:“Cổ phiế u là chứng chỉ do ngân hàng phát hành hoă ̣c bút toán ghi sổ xác nhâ ̣n quyề n sở hữu mô ̣t hoă ̣c mô ̣t số cổ phầ n của ngân hàng.
Cổ phiế u của ngân hàng có thể g hi tên hoă ̣c không ghi tên”; Điều lệ NHTMCP Nam Viê ̣t cũng quy đinh ̣ : “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của Ngân hàng phát hành, là chứng chỉ do Ngân hàng phát hành xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của Ngân hàng. Cổ phiếu của Ngân hàng có thể là cổ phiếu ghi tên hay cổ phiếu không ghi tên theo quy định” – Điể m n Khoản 1 Điề u 1; Điều lệ NHTMCP Vietcombank:“Cổ phiế u là chứng chỉ hoă ̣c bút toán ghi sổ của ngân hàng phát hành xác nhâ ̣n quyề n sở hữu mô ̣t hoă ̣c mô ̣t số cổ phầ n của ngân hàng” – Điể m r Khoản 1 Điề u 1. Điề u 18 Quyế t đinh ̣ số 1122/2001/QĐ – NHNN quy đinh ̣ nô ̣i dung chủ yế u của cổ phiếu NHTMCP tương tự như quy định về cổ phiếu của công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp: a) Tên, trụ sở chính của Ngân hàng thương mại cổ phần; b) Số và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; c) Số lượng cổ phần và loại cổ phần; d) Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; e) Tên cổ đông (đối với cổ phiếu có ghi tên); f) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phiếu; 8 g) Chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của Ngân hàng thương mại cổ phần; h) Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông và ngày phát hành cổ phiếu; i) Đối với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi biểu quyết ngoài những yếu tố trên còn phải ghi rõ mức được biểu quyết theo qui định tại Điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần. Vậy cổ phiếu của NHTMCP là loại cổ phiếu do NHTMCP phát hành, có những đặc điểm khác biệt so với cổ phiếu của các công ty cổ phần khác và khác biệt với các loại giấy tờ có giá khác do NHTMCP phát hành.
Theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thì giấy tờ có giá do TCTD phát hành gồm giấy tờ có giá ngắn hạn (kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác), giấy tờ có giá dài hạn (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác), giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh. Sau đây, ta sẽ xem xét sơ lược sự khác biệt của các loại giấy tờ có giá này với cổ phiếu do NHTMCP phát hành. - Về cổ phiếu: Là một chứng thư xác nhận quyền sở hữu trong ngân hàng và cho phép người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong NHTMCP. Cổ phiếu là giấy biên nhận số vốn cổ phần nên thuộc chứng khoán vốn.Cổ phần là phần vốn góp kinh doanh có tính chất lời ăn lỗ chịu nên không có kỳ hạn.Người mua cổ phiếu là cổ đông được sở hữu một phần tài sản của NHCP theo tỷ lệ góp.Người mua cổ phiếu không được rút vốn trở lại.Người mua cổ phiếu có quyền đầu phiếu (trừ khi mua cổ phiếu ưu đãi).
- Về trái phiếu: Trái phiếu là giấy biên nhận số nợ ngân hàng vay nên thuộc chứng khoán nợ. Trái phiếu có kỳ hạn, dù ngân hàng thua lỗ họ vẫn trả lãi cho người mua trái phiếu. Người mua trái phiếu chỉ là chủ nợ ngân hàng. Người mua trái phiếu được hoàn vốn 9 trở lại khi đến hạn.
Người mua trái phiếu không có quyền đầu phiếu.Lợi tức trái phiếu cố định không phụ thuộc vào mức thu nhập của ngân hàng. - Về tín phiếu: Tín phiếu là một loại “trái phiếu ngắn hạn” do NHNN phát hành, khác nhau về thời gian có giá trị tối đa là 364 ngày. Theo qui định, tín phiếu có thời hạn dưới 12 tháng, còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng.