Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây khoai môn 1. Nguồn gốc và sự phân bố cây khoai môn Cây khoai môn (Colocasia esculenta (L) Schott) là cây một lá mầm thuộc chi Colocasia, họ ráy (Araceace). Đây là loại cây được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Cây khoai môn được xác định có nguồn gốc phát sinh tại các dải đất kéo dài từ Đông Nam Ấn Độ và Đông Nam Á tới Papua New Guinea và Melanesia dựa vào rất nhiều minh chứng thực vật học của loại cây này (Kuruvilla and Singh, 1981; Matthew, 1995; Lebot, 1999). Lịch sử trồng trọt cũng bắt đầu từ những vùng đất đó. Vào khoảng 100 năm trước công nguyên khoai môn đã được trồng ở Trung Quốc và Ai Cập. Trong thời tiền sử, sự trồng trọt được mở rộng tới các quần đảo Thái Bình Dương, sau đó nó được đưa tới vùng Địa Trung Hải rồi tới Tây Phi.
Từ Tây Phi, cây trồng này được mở rộng tới Tây Ấn và tới các vùng nhiệt đới của châu Mỹ. Ngày nay, khoai môn được trồng phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới cũng như ôn đới ấm áp. Tại nhiều nơi của vùng cận Đông Nam Á đã phát hiện được nhiều dạng khoai môn hoang dại. Từ trung tâm khởi nguyên, cây khoai môn được đưa đến Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản và các quần đảo thuộc Thái Bình Dương.
Từ Châu Á khoai môn còn được đưa tới Ả Rập và các nước ven biển Địa Trung Hải. Người ta đã tìm thấy dấu vết của khoai môn được trồng ở Trung Quốc và Ả Rập vào khoảng 100 năm trước công nguyên. Ngày nay, khoai môn được trồng phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp. Tuy nhiên, diện tích khoai môn tập trung ở các nước Tây Phi, vùng Caribe và hầu hết các vùng của châu Á.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi được coi là trung tâm đa dạng di truyền cây trồng, nơi phát sinh của nhiều loài cây họ ráy, trong đó có khoai môn. Chính vì vậy nguồn gen khoai môn ở Việt Nam rất đa dạng. Theo Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Nguyễn Văn Viết, 2004 thì khoai môn, đặc biệt là khoai môn nước được thuần hoá ở nước ta từ rất sớm trước cả lúa nước, từ cách đây 10. Nguồn n 4 gen khoai môn được phân bố trong điều kiện tự nhiên rất đa dạng từ độ cao tương đương mực nước biển đến độ cao 1.800m, có giống sống trong điều kiện bão hoà về nước và ẩm hay phát triển trên đất khô hạn.
Khoai môn cũng có các giống ưa sáng và có cả những giống ưa bóng. Đặc điểm thực vật học và phân loại cây khoai môn 1. Phân loại thực vật khoai môn Phân loại khoa học Giới (Kingdom) : Plantae Ngành (division) : Magnoliophyta Lớp (class) : Liliopsida Bộ (order) : Alismatales Họ (family) : Araceae Chi (genus) : Colocasia Loài (species) : Colocasia esculenta Khoai môn, khoai sọ thuộc chi Colocasia, là một trong những chi quan trọng nhất của họ Ráy (Araceace). Các loài trong chi này được dùng làm lương thực, thực phẩm cho người và gia súc.
Nhóm cây lấy củ họ Ráy (Araceace) có tên tiếng Anh là “Taro” gồm một số loài như ráy rừng (Alocasia macrorrhira), ráy đầm lầy (Colocasia chamisonis), khoai sáp (Xantosoma agittifolium), dọc mùng (Colocasia gigantea), khoai môn (Colocasia esculenta var. Escullenta) và khoai sọ (Colocasia escullenta var. Trong số các loài này thì cây khoai môn, khoai sọ là loài có giá trị dinh dưỡng hơn cả. Họ ráy là một họ rất lớn với hơn 115 chi và 2.000 loài phân bố rộng khắp trên thế giới, trong đó có tới 92% số loài có xuất xứ từ những vùng nhiệt đới châu Á và châu Mỹ.
Ở Việt Nam hiện biết đến với 21 chi và 77 loài, phần lớn là cây ưa bóng làm thành tầng cây phụ chủ yếu ở rừng hỗn giao [13]. n 5 Ngoài việc được sử dụng làm thực phẩm các loài cây thuộc họ ráy còn được dùng làm cây cảnh như: Cây Vạn niên thanh lá xanh (Aglaonema siamense): Thân gầy mọc đứng, lá luôn xanh tốt; cây Vạn niên thanh dây (Scindapus aureus): Cây leo bằng rễ phụ, lá nhỏ màu xanh có đốm vàng, hình dạng giống lá trầu không, gân lá lông chim; cây Vạn niên thanh lá đốm (Diffenbachia picta): Hình dạng giống cây Vạn niên thanh lá xanh, nhưng lá lớn hơn và có đốm trắng; Cây Độc giác liên (Caladium bicolor): Có lá trông giống khoai môn nhưng nhỏ hơn, trên mặt lá có nhiều đốm sặc sỡ; Cây ráy leo lá to (Epipremnum pinatum): Cây leo rất khoẻ, mọc xuống, thân cây to bằng cổ tay, lá rất rộng, có gân lông chim, phiến lá có đốm vàng; Cây Thạch xương bổ lá nhỏ (Acorus gramineus var. pusillus): Lá hẹp, dài và nhọn như lá cỏ, có mùi rất thơm, hay được trồng trên các núi non bộ. Ngoài ra, có rất nhiều loài cây được trồng làm thuốc chữa bệnh như: Cây Thạch xương bồ (Acorus gramineus Soland): Chữa cảm lạnh, co giật, cấm khẩu, loạn nhịp tim, tay chân nhức mỏi, đầy bụng, ỉa chảy, ho lâu ngày; Cây Thiên niên kiện (Homalonema occalta Schott): Chữa tê thấp, đau dạ dày, ngộ độc; Cây Bán hạ (Typhonium trilobatum Schott): Chống nôn, tiêu đờm, bổ dạ dày; Cây Thiên nam tinh (Arisaema consangguineum): Chữa sốt rét, rắn cắn, sưng tấy, nhọt mủ, cầm máu, bó gãy xương; Cây ráy gai (Lasia spinosa Thw): Chữa ho, đau bụng, phù thũng tê thấp [10].
Để đảm bảo nguồn thức ăn cho gia súc con người đã nghĩ đến các cây thuộc họ ráy như: Cây khoai ráy (Alocasia macrorrhira L. Schott): Là cây mọc hoang trong các khu rừng thứ sinh nơi ẩm ướt, ven bờ suối và các thung lũng núi đá. Cây có thân, rễ dạng củ, lá rất lớn hình mũi tên, cuống lá đính ở gốc phiến rất mập, có thể dài hơn 1m. Cụm hoa dạng bông mo, có phiến mo màu vàng, mang hoa cái ở gốc, hoa đực ở phía trên.
Quả mọng hình trứng, màu đỏ; Cây khoai nưa (Amorphophallus campanulatus): Mọc hoang rải rác khắp các vùng rừng núi. Cây thân củ nằm trong đất, củ hình bán cầu mặt dưới lồi mang một số rễ phụ và có những mắt chỉ như củ khoai tây. Củ có màu nâu, thịt trắng vàng và cứng, ăn hơi ngứa. Ngoài ra còn có các cây khác như: Bèo cái (Pistia stratioities), Khoai nước (Clocasia escullenta L.
n 6 Ở Việt Nam, trong nhiều tài liệu nghiên cứu về cây khoai môn , các tác giả đều sử dụng danh từ chung “Cây khoai môn” vừa để chỉ giống cây thích nghi với môi trường đất bị ngập nước hoặc ẩm ướt, với tên thường gọi là “cây khoai nước”, và cũng để chỉ nhóm cây chịu hạn mà không chịu được ngập úng, thường gọi là “cây khoai sọ” [14]. Esculenta, theo phân loại dưới loài cho thấy có hai nhóm cây là nhóm khoai nước (chịu ngập úng) và nhóm khoai môn (trồng trên đất cao). Hai nhóm này sử dụng củ cái để ăn, củ con để làm giống và dọc lá dùng để chăn nuôi. Hoa có phần phụ vô tính ngắn hơn so với phần phụ hoa đực.
Antiquorum gồm nhóm cây khoai sọ. Nhóm này có củ cái có kích thước từ nhỏ đến trung bình, kèm theo nhiều củ con có tính ngủ nghỉ. Nhóm khoai sọ phân bố rộng, có thể trồng trên đất ruộng lúa nước hoặc trên đất bằng có tưới, thậm trí trên đất dốc sử dụng nước do mưa. Hoa có phần phụ vô tính dài hơn phần phụ hoa đực.
Vì vậy chúng ta nên gọi nhóm khoai môn là chính xác nhất, kể cả khi cho rằng có một loài đa hình là C. Antiquorum và mức độ dưới loài là C. Cần dựa vào hình thái của củ cái và củ con, số lượng nhiễm sắc thể và đặc điểm hình thái hoa để phân biệt các giống của hai nhóm này. Nếu dựa vào hình thái củ cái và củ con thì thấy rằng: - Nhóm C.
Esculenta (Dasheen) bao gồm các giống khoai môn và khoai nước. Đặc điểm của chúng là có một củ cái lớn quyết định năng suất giống khoai với một vài củ con nhỏ và dải khoai (stolon) ít dùng để ăn. Bông hoa của nhóm này có phần phụ vô tính ngắn hơn phần hoa đực. Khả năng thích ứng của nhóm này rộng từ đất bị ngập nước đến đất thuộc vùng trung du và miền núi với nhiều giống khoai nổi tiếng.
Antiquorum (Eddoe) gồm hầu hết các giống khoai sọ, với đặc điểm là có một củ cái có kích thước nhỏ hoặc trung bình, ăn sượng và hơi ngái. Xung quanh củ cái có nhiều củ con hình cầu hoặc hình trứng với kích thước khác nhau tuỳ thuộc từng giống. Ở các giống khoai sọ củ con quyết định năng n 7 suất thu hoạch. Các giống nhóm này thường có củ con cấp 1, 2, 3 và thường có thời gian ngủ nghỉ nên bảo quản được lâu.
Hoa nhóm này có phần phụ vô tính dài hơn phần phụ của hoa đực. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam thì ngoài hai nhóm trên trong tập đoàn còn nhiều giống khác ở dạng trung gian. Các dạng trung gian này có thể do sự lai tạo tự nhiên nên ít được quan tâm nghiên cứu. Nhóm này có củ cái và củ con gần bằng nhau.
về hình dạng và kích thước. Ở Việt Nam, số lượng giống khoai sọ và khoai môn gần tương đương nhau trong tập đoàn. Trong các nước Đông Nam Á, Việt Nam là nước có sự đa dạng về giống khoai sọ hơn cả. Các giống khoai sọ tam bội chịu hạn tốt hơn các giống khoai môn nhị bội.
Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu gần đây của một số tác giả thì loài C. Esculenta vẫn tồn tại thể tam bội. Đối với công tác lai tạo thì các giống dạng tam bội không sử dụng được vì thế phân loại theo nhiễm sắc thể có ý nghĩa thực tiễn lớn. Trong tập đoàn khoai môn của Việt Nam, số giống dạng tam bội khá đa dạng về hình thái [5].
Một số đặc tính sinh vật học của cây khoai môn Cây khoai môn (Colocasia esculenta) là loài cây thân thảo, thường cao từ 0,5 - 2,0m. Cây thường có một củ cái nằm ở giữa ở dưới đất, từ đó lá phát triển lên trên, các củ con, củ nách phát triển sang hai bên. - Lá khoai môn Lá và dọc lá là phần nổi trên mặt đất quyết định chiều cao của cây. Mỗi lá được cấu tạo bởi một dọc lá thẳng và một phiến lá.
Phiến lá của hầu hết các kiểu gen có dạng hình khiên, gốc lá hình tim, có rốn ở gần giữa. Phiến lá nhẵn, chiều dài có thể giao động từ 20 - 70cm, chiều rộng từ 15 - 50cm. Kích thước của lá chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện ngoại cảnh. Lá đạt kích thước lớn nhất ở giai đoạn sắp ra hoa.