ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã thực vật rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường Tuy nhiên, trong những năm gần đây, rừng bị chặt phá quá nhiều nên lượng khí các-bon-níc thải vào bầu khí quyển ngày càng nhiều. Do đó khí hậu đang thay đổi và sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực cho con người, tác động tới môi trường toàn cầu nhưng rõ rệt nhất là việc sụt giảm nguồn nước ngầm, bão tố, lũ lụt, nắng hạn… thường xuyên xảy ra, đã ảnh hưởng đến đời sống dân cư, hủy hoại sản xuất nông nghiệp và làm suy thoái đa dạng sinh học và tài nguyên nước… Trước thực trạng đó đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp phù hợp để bảo vệ rừng, cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý Nhà nước đối với tài nguyên rừng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công tác theo dõi đánh giá và dự báo xu thế diễn biến rừng làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng các chiến lược hoặc kế hoạch phát triển tài nguyên rừng và nghề rừng trên phạm vi toàn quốc cũng như các địa phương. Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm là một trong những hoạt động quan trọng của ngành lâm nghiệp.
Kết quả kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp có ý nghĩa quan trọng phục vụ việc hoạch định các chủ trương, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và định hướng phát triển kinh doanh Lâm nghiệp đối với các đơn vị chủ rừng. Thực tiễn công tác quản lý tài nguyên rừng ở nước ta nói chung cho thấy việc xây dựng mô hình giám sát và đánh giá diễn biến tài nguyên rừng bằng công nghệ địa không gian là một yêu cầu hiện hữu và cấp bách. Công nghệ này cho phép cập nhật và đánh giá sự thay đổi về diện tích, hiện trạng, khoanh vùng sâu bệnh, dịch hại, xác định vùng ngập lụt và vùng chịu tác c 2 động của gió bão, dự báo biến động trong tương lai. một cách khoa học, minh bạch và tiết kiệm chi phí.
Tuy nhiên, cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này vẫn cần được làm sáng tỏ, xác định được mô hình cụ thể để ứng dụng, xây dựng quy trình và phương pháp tổ chức thực hiện; Cấu trúc và những đặc trưng cơ bản của cơ sở dữ liệu địa không gian ở địa phương. Làm sao để phát huy được sự tham gia của các bộ và người dân cấp làng xã tham gia vào theo dõi và đánh giá diễn biến tài nguyên. Các kỹ thuật xử lý và phân tích diễn biến rừng bằng công nghệ địa không gian cần được hệ thống hóa một cách khoa học và đưa ra các phương án lựa chọn cho từng đối tượng vùng/tiểu vùng sinh thái của mỗi địa phương. Xã Hướng Hiệp nằm về phía Đông Bắc huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị; tổng diện tích tự nhiên của xã 14.188,40 ha, cách trung tâm huyện lỵ khoảng 03 km nằm dọc theo quốc lộ 9.
Diện tích địa bàn xã trải rộng trên nhiều dạng địa hình hình phức tạp. Đời sống của hơn 5000 dân địa phương chủ yếu dựa vào rừng nên việc quản lý bền vững tài nguyên rừng đang là một vấn đề hết sức cấp bách. Trong những năm gần đây, rừng trên địa bàn xã có nhiều diễn biến phức tạp dưới tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy ảnh hưởng nhiều đến kết theo dõi diễn biến rừng hàng năm của xã. Do đó cần phải có những đánh giá về thực trạng và diễn biến tài nguyên rừng của xã làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng một cách có hiệu quả.
Với nhiệm vụ là một cán bộ Kiểm lâm địa bàn, tôi đã nhận thấy được những hạn chế, khó khăn trong việc theo dõi, giám sát tài nguyên rừng và đất rừng của xã bằng phương pháp truyền thống so với việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và xử lý bằng máy tính. Từ những lý do nêu trên tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích thực trạng, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng tại xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2019” c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm về rừng Luật Lâm nghiệp năm 2017 [16] quy định: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên. Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 [14] của Chính phủ quy định một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được các tiêu chí sau: Rừng tự nhiên: Rừng tự nhiên bao gồm rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh - Độ tàn che của các loài cây thân gỗ, tre nứa, cây họ cau (sau đây gọi tắt là cây rừng) là thành phần chính của rừng tự nhiên từ 0,1 trở lên.
- Diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên. - Chiều cao trung bình của cây rừng là thành phần chính của rừng tự nhiên được phân chia theo các điều kiện lập địa như sau: + Rừng tự nhiên trên đồi, núi đất và đồng bằng: chiều cao trung bình của cây rừng từ 5,0 m trở lên; + Rừng tự nhiên trên đất ngập nước ngọt: chiều cao trung bình của cây rừng từ 2,0 m trở lên; + Rừng tự nhiên trên đất ngập phèn: chiều cao trung bình của cây rừng từ 1,5 m trở lên; + Rừng tự nhiên trên núi đá, đất cát, đất ngập mặn và các kiểu rừng ở điều kiện sinh thái đặc biệt khác: chiều cao trung bình của cây rừng từ 1,0 m trở lên. c 4 Rừng trồng bao gồm rừng trồng mới trên đất chưa có rừng, rừng trồng lại sau khai thác hoặc do các nguyên nhân khác, rừng trồng cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng trồng tái sinh sau khai thác: - Độ tàn che của cây rừng trồng từ 0,1 trở lên. - Diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên.
- Chiều cao trung bình của cây rừng được phân chia theo các điều kiện lập địa như sau: + Rừng trồng trên đồi, núi đất và đồng bằng, trên đất ngập phèn: chiều cao trung bình của cây rừng từ 5,0 m trở lên; + Rừng trồng trên núi đá có đất xen kẽ, trên đất ngập nước ngọt: chiều cao trung bình của cây rừng từ 2,0 m trở lên; + Rừng trồng trên đất cát, đất ngập mặn: chiều cao trung bình của cây rừng từ 1,0 m trở lên. Phân loại tài nguyên rừng Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT [15] qui định như sau: - Phân chia rừng theo nguồn gốc hình thành: Rừng tự nhiên (Rừng nguyên sinh; Rừng thứ sinh: rừng thứ sinh phục hồi, rừng thứ sinh sau khai thác) và rừng trồng (Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; Rừng trồng lại; Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng sau khai thác). - Phân chia rừng theo điều kiện lập địa: Rừng núi đất (rừng trên các đồi, núi đất), Rừng núi đá (rừng trên núi đá hoặc trên những diện tích đá lộ đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt), Rừng ngập nước thường xuyên hoặc định kỳ (Rừng ngập mặn; Rừng ngập phèn; Rừng ngập nước ngọt thường xuyên hoặc định kỳ), Rừng đất cát (rừng trên các cồn cát, bãi cát). - Phân chia rừng theo loài cây: Rừng gỗ (Rừng cây lá rộng; Rừng cây lá kim; Rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim), Rừng tre nứa.
Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa và rừng hỗn giao tre nứa - gỗ, Rừng cau dừa. c 5 - Phân chia rừng tự nhiên theo trữ lượng + Đối với rừng gỗ: Rừng giàu: trữ lượng cây đứng lớn hơn 200 m3/ha; Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 đến 200 m3/ha; Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 50 đến 100 m3/ha; Rừng nghèo kiệt: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 50 m3/ha; Rừng chưa có trữ lượng: trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha. + Đối với rừng tre nứa: rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ. Bản đồ hiện trạng rừng - Bản đồ hiện trạng rừng là bản đồ chuyên đề tài nguyên rừng được biên vẽ trên nền bản đồ địa hình cùng tỷ lệ, trên đó thể hiện đầy đủ và chính xác vị trí, diện tích các loại trạng thái rừng phù hợp với kết quả thống kê, kiểm kê tài nguyên rừng theo định kỳ.
- Bản đồ hiện trạng rừng là tài liệu quan trọng và cần thiết cho công tác quản lý, phát triển rừng vả cho các ngành kinh tế, kỹ thuật khác đang sử dụng và khai thác tài nguyên rừng. - Bản đồ hiện trạng rừng thể hiện các nội dung sau: + Đường bình độ + Sông, hồ, biển + Hệ thống thủy văn + Đường giao thông + Điểm dân cư + Các đối tượng: công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa – xã hội như lâm trường, xí nghiệp, đường tải điện,… + Ranh giới hành chính tỉnh, huyện, xã + Ranh giới 3 loại rừng, ranh giới lô, tiểu khu + Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp. Bản đồ phải thể hiện được tỷ lệ xích và hướng quy ước (hướng Bắc). c 6 - Những ứng dụng của bản đồ trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp.
+ Bản đồ hiện trạng rừng là một tài liệu quan trọng và cần thiết cho công tác quản lý, phát triển tài nguyên rừng và cho các ngành kinh tế, kỹ thuật khác đang sử dụng và khai thác tài nguyên rừng. + Bản đồ hiện trạng rừng thể hiện kết quả thống kê, kiểm kê tài nguyên rừng lên bản vẽ. Thông qua các loại bản đồ ta có thể tìm được các thông tin đầy đủ, chính xác về: số lượng, chất lượng và đặc điểm phân bố tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất của đối tượng sản xuất. + Bản đồ hiện trạng rừng là một trong những cơ sở để xác định phương hướng, nhiệm vụ quản lý đất đai tài nguyên rừng, xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp, kế hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, lập phương án bảo vệ, quản lý rừng, đất rừng.