phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm: Phần 1: Giới thiệu Phần 2: Tổng quan một số nghiên cứu về cấu trúc vốn Phần 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Phần 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Phần 5: Kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 2 TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC VỐN Muốn xây dựng cấu trúc vốn hợp lý cho các Doanh nghiệp Việt Nam thì trước tiên cần hiểu về cấu trúc vốn, phần này sẽ khái quát các khái niệm và lý thuyết liên quan cấu trúc vốn.1 Tài chính doanh nghiệp: Quá trình hoạt động của Doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, làm phát sinh và tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao hàm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp. Do đó, xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.
Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình họat động. Từ những khái niệm trên có thể thấy tài chính doanh nghiệp thực chất quan tâm đến ba quyết định sau: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối lợi nhuận Quyết định đầu tư: Được thể hiện qua việc doanh nghiệp lựa chọn nên đầu tư vào những dự án nào trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn để tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu. Quyết định tài trợ: Được thể hiện qua việc doanh nghiệp lựa chọn nên tài trợ vốn cho dự án đầu tư bằng những nguồn vốn nào và với quy mô bao nhiêu. Quyết định phân phối lợi nhuận: Được thể hiện qua việc doanh nghiệp lựa chọn nên phân phối kết quả hoạt động kinh doanh như thế nào.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Các quyết định này sẽ có tác động tới tỷ lệ tăng trưởng thu nhập của chủ sở hữu trong tương lai, và điều đó sẽ tác động làm tăng hoặc giảm giá trị công ty trên thị trường.2 Cấu trúc vốn Doanh nghiệp: Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu đầu tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn. Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho nhu cầu kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có thể quy về hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các chủ đầu tư đóng góp ban đầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh (vốn đầu tư của chủ sở hữu). Ngoài ra, thuộc vốn chủ sở hữu còn bao gồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ doanh nghiệp…Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản nợ nên doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đã chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh; do vậy, doanh nghiệp phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán. Thuộc nợ phải trả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân theo nhiều cách khác nhau, trong đó, phân theo thời hạn thanh toán và đối tượng nợ được áp dụng phổ biến. theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn. Sự kết hợp nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp tạo ra cấu trúc vốn.
Do đó cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh. Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án kết hợp phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy động vốn cổ phần, đi vay ngân hàng, vay từ các nguồn khác. Để sử dụng các nguồn tài trợ đều tốn khoản chi phí để huy động vì đối với nhà đầu tư, khi cho doanh nghiệp sử dụng vốn thì nhà đầu tư sẽ mất cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hội sử dụng số vốn này vào các cơ hội đầu tư khác, điều đó cũng đồng nghĩa là mất đi một khoản thu nhập mà nhà đầu tư có thể nhận được từ cơ hội khác đó. Khi đó nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức sinh lời khi đầu tư vốn cho doanh nghiệp.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp là người sử dụng vốn, tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư chính là mức sinh lời tối thiểu mà dự án đạt được thì mới thỏa mãn được đòi hỏi của nhà đầu tư, do đó nhà quản trị tài chính gọi đó là chi phí sử dụng vốn. Vì vậy, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu giúp doanh nghiệp hoạch định các chiến lược tối ưu để hoạt động. Do cấu trúc vốn gồm có hai thành phần nợ và vốn nên để xem xét cấu trúc vốn, các nhà quản trị thường quan tâm đến đòn bẩy tài chính.3 Đòn bẩy tài chính: 2.1 Khái niệm Đòn bẩy tài chính là thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở hệ số nợ.
Doanh nghiệp có hệ số nợ cao thể hiện doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính ở mức độ cao và ngược lại. doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng cao thì mức độ rủi ro trong hoạt động tài chính càng cao nhưng cơ hội gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu càng lớn. Cần lưu ý rằng, việc sử dụng đòn bẩy tài chính như sử dụng “con dao hai lưỡi”. Nếu tổng tài sản không có khả năng sinh ra một tỷ suất lời đủ lớn để bù đắp chi phí lãi vay nợ thì tỷ suất lợi nhuận do vốn chủ sở hữu làm ra phải dùng để bù đắp sự thiếu hụt của khoản lãi vay phải trả.
Khả năng gia tăng lợi nhuận cao là điều mong ước của các chủ sở hữu, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý thường dùng. Đòn bẩy tài chính là công cụ hữu ích để khuếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay gia tăng thu nhập một cổ phần, đồng thời cũng tiềm ẩn sự gia tăng rủi ro cho chủ sở hữu. sự thành công hay thất bại này tùy thuộc vào chiến lược của chủ sở hữu khi lựa chọn cơ cấu tài chính.2 Chỉ số đo lường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Có khá nhiều chỉ số tài chính được sử dụng để đo lường đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp và việc lựa chọn chỉ số nào tùy thuộc vào ý nghĩa mà chỉ số đó mang lại. Dưới đây là một số chỉ số thường gặp: 2.1 Tỷ lệ tổng nợ trên tài sản Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn.
Công thức tính tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản như sau: Tỷ lệ tổng nợ trên tài sản = Thông thường các chủ nợ muốn tỷ lệ tổng nợ trên tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tỷ số này cao thể hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Để có nhận xét đúng đắn về tỷ lệ tổng nợ trên tài sản cần phải kết hợp với các tỷ số khác nhưng nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cao, chúng ta có thể kết luận trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy động tiền vay để tiến hành kinh doanh, sản xuất.2 Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty. Nó cho ta biết về tỷ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Công thức tính tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu như sau: Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu = Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động.
Thông thường, nếu hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn. Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao.