Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội và nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội Xét về mặt ngôn ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ khái niệm “nhân thân” và khái niệm “người phạm tội” [48, tr. Do vậy, để làm sáng tỏ khái niệm nhân thân người phạm tội, phải dựa vào và xuất phát từ các luận điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất của con người nói chung với tư cách là một phạm trù lịch sử - xã hội [49, tr.
Bản chất của con người bao gồm những nội dung về sinh học và xã hội. Con người là sản phẩm của tự nhiên nên trước hết mang đặc tính sinh học. Đặc tính sinh học trong con người quyết định sự hình thành những hiện tượng, quá trình tâm, sinh lý của con người. Mặt khác, con người muốn tồn tại đòi hỏi phải có quá trình hoạt động để phục vụ nhu cầu sinh học của mình như ăn, uống, nghỉ ngơi,.
Đồng thời, trong bất kỳ xã hội nào, con người không bao giờ sống tách rời, riêng lẻ mà luôn luôn có mối quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất cũng như trong quá trình sinh hoạt khác. Vì thế, con người luôn mang đặc tính xã hội. Nhân thân con người là sự thống nhất giữa các đặc tính xã hội và đặc tính sinh học, trong đó đặc tính xã hội có ý nghĩa quyết định, nhưng đặc tính sinh học cũng có ý nghĩa riêng. “Chính quá trình thỏa mãn các nhu cầu sinh học chiếm vị trí quan trọng trong ý thức và quy định lợi ích cũng như khuynh hướng phát triển của con người” [49, tr.
Nhân thân con người là tất cả các đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội có liên quan đến một con người, thể hiện bản chất riêng của họ. Nói cách khác, nhân thân con người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của 8 con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội. “Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không phải là con người nói chung. Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [48, tr.
Người phạm tội cũng là con người của xã hội, cho dù tội phạm mà họ thực hiện có nghiêm trọng đến đâu. Vì vậy, khi đề cập đến nhân thân người phạm tội là nói đến các đặc điểm của nhân thân con người nói chung và cả những đặc điểm đặc trưng của nhân thân người phạm tội, chính những đặc điểm, dấu hiệu này thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của họ. Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con người bình thường trước hết ở chỗ trong nhân thân của họ bao gồm tất cả các dấu hiệu mà luật hình sự quy định về chủ thể của tội phạm nói chung. Có nghĩa rằng, tại thời điểm thực hiện tội phạm họ có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định và đặc biệt là họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Ngoài ra, nhân thân người phạm tội còn có dấu hiệu, đặc điểm liên quan đến sự việc phạm tội như tâm lý, tính cách, thói quen, sở thích, quan điểm, thái độ đối với xã hội, ý thức pháp luật…[48, tr. Cũng như nhân thân con người, nhân thân người phạm tội bao gồm toàn bộ các đặc điểm tâm, sinh lý. Các đặc điểm tâm, sinh lý phụ thuộc vào những điều kiện sống, của sự giáo dục, của những mối quan hệ… nhất định. Chính các đặc điểm đó dưới sự tác động của các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài, của tình huống cụ thể, tạo thành động lực thúc đẩy việc thực hiện tội phạm.
Như vậy, nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến con người đó thực hiện hành vi phạm tội [49, tr. Khái niệm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu 1. Các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý và vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân. Xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản có nghĩa là làm mất đi quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, hoặc quyền định đoạt đối với tài sản.
Đối tượng tác động của nhóm tội này là tài sản, quyền sở hữu ở đây là sở hữu về tài sản. Các tội phạm cụ thể XPSH được quy định tại chương XIV BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nghiên cứu về cấu thành tội phạm của các tội XPSH, có thể chỉ ra một số dấu hiệu pháp lý chung như sau: - Khách thể của các tội XPSH là các quan hệ sở hữu đối với tài sản. Nội dung của quan hệ sở hữu thể hiện quyền của chủ sở hữu về tài sản, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và được quy định trong Luật Dân sự.
Đối tượng tác động của các tội XPSH: Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân Sự năm 2015, thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Trong đó, giấy tờ có giá là giấy tờ được xác định mệnh giá và có thể lưu thông dân sự được (mua bán). Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và quyền tài sản khác. Tài sản với tư cách là đối tượng tác động của các tội XPSH bao gồm vật, tiền và giấy tờ có giá.
Trong các loại tài sản thì một số tài sản đặc biệt không phải là đối tượng của tội XPSH mà là đối tượng của một số tội phạm khác. Ví dụ: Công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các loại vũ khí quân dụng… - Mặt khách quan của các tội XPSH thể hiện ở các hành vi: 10 + Hành vi chiếm đoạt tài sản: người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản “của mình”… Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng thực hiện bằng hành động tích cực, cụ thể và luôn là cố ý trực tiếp: Mong muốn biến tài sản của người khác thành tài sản của mình. + Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: Một hình thức thấp hơn, cũng được thể hiện bằng sự chuyển dịch tài sản từ chủ thể khác, chủ thể quản lý tài sản đã mất khả năng thực tế thực hiện quyền chiếm hữu đối với tài sản. Ở đây chủ thể phạm tội khẳng định sự mong muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình bằng cách tỏ những thái độ định đoạt đối với tài sản kể trên.
+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản: Đó là việc khai thác giá trị, giá trị sử dụng các tài sản mà không được phép, không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người có chức năng quản lý về nghiệp vụ đối với loại tài sản bị khai thác trái phép đó. + Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản, làm mất mát, lãng phí tài sản: Đó là những hành vi được thể hiện thông qua đối tượng tác động làm mất hoàn toàn giá trị, giá trị sử dụng của tài sản (hủy hoại), làm mất giá trị từng phần có thể khôi phục được (làm hư hỏng), làm thất thoát gây thiệt hại cho chủ sở hữu… Hậu quả tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm như: trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…. Các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản là những tội phạm có cấu thành hình thức, nên dấu hiệu về mặt khách quan của các tội phạm này chỉ bao gồm một yếu tố là hành vi phạm tội mà không gồm hậu quả của tội phạm và mối quan hệ giữa hành vi phạm tội với hậu quả do tội phạm gây ra. Về thời điểm hoàn thành của tội 11 phạm, tùy thuộc vào từng cấu thành tội phạm cụ thể mà thời điểm hoàn thành tội phạm có thể khác nhau.
- Chủ thể của tội phạm XPSH Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự là chủ thể của tất cả các tội XPSH quy định tại các Điều từ 168 đến 180 BLHS năm 2015. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại: khoản 2, 3 Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản; khoản 2, 3, 4 Điều 171 (tội cướp giật tài sản); khoản 3, 4 của các Điều 173 (tội trộm cắp tài sản), Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản BLHS. Ngoài hai dấu hiệu (năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nêu trên, chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp còn đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt là “Người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp”. - Mặt chủ quan của tội phạm XPSH: Về lỗi, các tội XPSH sau đây được thực hiện do lỗi cố ý như: Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội cướp giật tài sản; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Tội chiếm giữ trái phép tài sản; Tội sử dụng trái phép tài sản; Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
Chỉ có hai tội là tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là những tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý.