Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số kiến thức về tiếng Việt 1.1 Trường từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt a. Khái niệm Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, một trong những người đầu tiên trong giới Việt ngữ học vận dụng khái niệm trườngvào lĩnh vực nghiên cứu từ vựng, cho rằng trường từ vựng- ngữ nghĩa là “những tập hợp từ có sự đồng nhất về ngữ nghĩa xét theo một phương diện nào đấy” [3, tr. Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ của một ngôn ngữ.
Chúng làm thành một hệ thống và giữa chúng tồn tại những mối quan hệ nhất định. Một trong những mối quan hệ từ vựng cơ bản giữa đơn vị từ vựng là quan hệ về nghĩa. Các đơn vị đồng nhất với nhau về nghĩa được tập hợp thành trường từ vựng ngữ nghĩa. Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, chúng ta sẽ tiến hành phân lập toàn bộ từ vựng của tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra mối quan hệ giữa các từ trong từ vựng.
Theo Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp: “Trường từ vựng - ngữ nghĩa (còn được gọi là trường từ vựng) là những tiểu hệ thống, những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về nghĩa với nhau một cách có hệ thống”[23,tr. Ví dụ, các từ:ông, bà, cha, mẹ, cô ,chú, bác, thím, dì, cụ, kị, tổ, cố, anh, chị, em, cháu, chắt,… lập thành trường ngữ nghĩa gồm những từ chỉ quan hệ thân tộc theo một hệ thống chặt chẽ. Đến nay, có lẽ vẫn chưa có một sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm trường từ vựng – ngữ nghĩa. Tuy nhiên, dựa vào những quan niệm của các 7 nhà nghiên cứu đi trước, chúng ta rút ra được một cách hiểu chung nhất để làm cơ sở cho nghiên cứu: mỗi một tập hợp từ (và ngữ cố định) có quan hệ với nhau về nghĩa sẽ tạo thành một tiểu hệ thống từ vựng, gọi là trường từ vụng – ngữ nghĩa Có thể hình dung về trường từ vựng – ngữ nghĩa bằng một vài ví dụ sau đây: Trường biểu vật về vật thể bao gồm những nhóm từ có quan hệ về nghĩa với nó như: Về chất liệu: sắt, thép, đồng, nhôm, kẽm, vàng, bạc, chì, da, vải, gỗ, nhựa, cao su, thủy tinh, cacbon, mica,… Về hình dáng: to, vừa, nhỏ, tròn, méo, vuông, chóp, trụ, đa giác, lập phương, tam giác, … Về màu sắc: vàng, đỏ, xanh, nâu, đan, sẫm, tím , cam, lam, trắng, … Ngoài ra, mỗi từ trong nhóm từ như vậy lại có thể kết hợp với những từ trong nhóm khác làm thành mạng lưới các mối quan hệ gồm nhiều tầng bậc rất phức tạp Ví dụ, trong tiểu trường về công dụng của vật thể còn có thể chia ra thành những nhóm trường nhỏ hơn nữa: - Công dụng phục vụ lao động: cuốc, xẻng, dao, kéo, kim, chỉ, rổ, nong, nia, đinh ba, nơm, lưới, lúa, cỏ, bông,… - Công dụng phục vụ nấu ăn: chén, bát, mâm, rổ, cá, chim, gà, heo, bò, rau, gạo, mắm, muối, đường,… - Công dụng phục vụ giải trí: tivi, piano, radio, kèn, sáo, đồ chơi, máy tính, điện thoại,trái bóng, vợt,… 8 b.
Quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng-ngữ nghĩa b1. Quan hệ dọc Để phân biệt các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng, các nhà từ vựng học thường nói đến các nhóm trường từ vựng như trường tuyến tính (quan hệ theo trục ngang) và trường liên tưởng (quan hệ theo trục dọc). Ở quan hệ theo trục dọc có hai kiểu trường nghĩa được thể hiện, đó là nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm. Các trường nghĩa này được hiểu như sau: Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật.
Ví dụ : Trường biểu vật (người) * Người nói chung: 1. Người nói chung về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ,… 2. Người nói chung xét về tuổi tác: trẻ em, nhi đồng, thiếu niên, thanhniên, cụ già, trung niên,… 3. Người nói chung xét về nghề nghiệp: thầy giáo, giáo viên, côngnhân, nông dân, học sinh, thầy thuốc, thợ xây,… * Bộ phận con người: Đầu, mình, chân, tay, mắt, miệng, răng, da, lưỡi, phổi, đùi, ruột, gan,phổi, họng… * Hoạt động của con người: 1.
Hoạt động trí tuệ: nghĩ, suy, suy nghĩ, ngẫm, nghiền ngẫm, phán đoán, phân tích… 9 2. Hoạt động của các giác quan để cảm giác: nhìn, trông, thấy, ngó, ngửi, nếm… 3. Hoạt động của con người tác động đến đối tượng, chẳng hạn: a. Hoạt động của tay: túm, bắt, chụp, kéo, đẩy, nắm, xé, cắt, chặt… b.
Hoạt động của chân: hất, đá, đạp, xéo, dẫm, … Trường nghĩa biểu niệmlàmột tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm. Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ. Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau. Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi.
Ví dụ: Trường biểu niệm “vật thể nhân tạo thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động cầm tay”: 1. Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, phảng, rìu, liềm, hái,. Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, dui, khoan,. Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm, đó, đăng, câu, vó, bầy,.
Quan hệ ngang Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) Theo Đỗ Hữu Châu: “Nói đến trường tuyến tính là nói đến những từ có khảnăng kết hợp với từ trung tâm làm thành một ngữ đoạn kiểu như: trời cao, trời xanh, trời mưa, trời nồm,.hoặc cổng trời, vòm trời, ông trời,. 10 Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ. Ví dụ: Trường tuyến tính của từ mèo là:đen, trắng, vằn, đốm, nhỏ, lớn, mun, xù, bông, lai,… Trường tuyến tính của từ tay là:búp măng, mềm, ấm, lạnh, nắm,cầm, khoác,. Trường tuyến tính của từ áo: xanh, đỏ, vàng, dày, mềm , mỏng, ấm, măc, cởi, treo,… Trường nghĩa tuyến tính của từ đi:nhanh, chậm, tập tễnh, lom khom, khoan thai, khập khiễng,.
Cùng với các trường nghĩa dọc, các trường tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ. Câu tiếng Việt a. Khái niệm Trong giới Việt ngữ họccó nhiều định nghĩa về câu. Từ điển khái niệm ngôn ngữ học đưa ra định nghĩa ngắn gọn, khái quát về câu: “Đơn vị cơ bản của lời nói, nó là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất, là ngôn bản nhỏ nhất ”[10, tr.
Nguyễn Kim Thản chọn định nghĩa của V. Vinogradov: “ Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy tắc của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tư tưởng. Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [28, tr. 11 Ngữ pháp tiếng Việt: “ Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất độc lập ” [35, tr.167] Trong luận văn này, chúng tôi đưa ra một cách hiểu về câu để vận dụng: Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất diễn đạt một nội dung thông báo tương đối trọn vẹn, có cấu tạo ngữ pháp độc lập và có ngữ điệu kết thúc mà trên chữ viết thể hiện bằng một dấu chấm câu.
Chức năng và đặc điểm của câu b1. Chức năng của câu Câu thực hiện hai chức năng chính là giao tiếp và biểu thị phán đoán. Bắt đầu ở bậc câu, ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp của mình.Câu mang nội dung thông tin về hiện thực khách quan; thể hiện trạng thái tình cảm, cảm xúc, ước nguyện, … chủ quan của người sử dụng ngôn ngữ.Câu là phương tiện tác động làm thay đổi ở người nghe về nhận thức, tình cảm hoặc hành động. Chức năngbiểu thị phán đoán của câu thể hiện mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy.
Phán đoán là một hình thức của tư duy, phản ánh hiện thực khách quan. Các phán đoán của tư duy đều được biểu thị bằng câu. Đặc điểm của câu Câu có mặt hình thức và nội dung. Câu có hình thức ngữ âm và hình thức cấu tạo ngữ pháp (cấu trúc cú pháp).
Về hình thức ngữ âm, câu là một đoạn lời nói mà khi phát âm biểu hiện thành một chuỗi âm tiết, có ngữ điệu kết thúc bằng cách nâng cao hoặc hạ 12 giọng và một quãng ngừng tạo ranh giới giữa hai câu.Trong nhiều ngôn ngữ, trên chữ viết, câu bắt đầu bằng chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấu chấm câu. Về hình thức ngữ pháp, câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập: câu này không làm thành phần ngữ pháp của câu kia. Bưởi này ngon. Tôi nghĩ rằng bưởi này ngon.
Đơn vị Bưởi này ngon ở VD1 là câu, có cấu tạo ngữ pháp độc lập. Đơn vị bưởi này ngon ở VD 2 chỉ là cụm từ nằm trong câu. Về nội dung câu thường có hai thành phần nghĩa: Nghĩa miêu tả: phản ánh hiện thực, thể hiện mối quan hệ giữa câu với đối tượng được nói tới; Nghĩa tình thái: phản ánh trạng thái tình cảm, cảm xúc, thái độ, ước nguyện, … của người nói trong mối quan hệ với điều được nói tới trong câu hoặc với người nghe. Phân loại câu Câu có thể phân loại theo cấu tạo ngữ pháp hoặc mục đích nói.
Dựa vào cấu tạo ngữ pháp có thể phân loại câu thành câu đơn và câu ghép; câu bình thường và câu đặc biệt. Dựa vào mục đích nói, câu được chia ra làm 4 kiểu: câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu khiến) và câu cảm thán (câu cảm). 13 Dựa vào mối quan hệ với hiện thực, câu được chia thành 2 kiểu là câu khẳng định và câu phủ định. Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt Biện pháp tu từ được hiểu là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người đọc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.