Tổng quan nghiên cứu

Hạn hán là một trong những loại hình thiên tai khắc nghiệt nhất, gây thiệt hại kinh tế nặng nề chỉ sau bão lũ tại Việt Nam. Điển hình trong đợt hạn hán lịch sử năm 2015 đến đầu năm 2016, toàn vùng Tây Nguyên bị khô hạn nghiêm trọng, trong đó riêng tỉnh Đắk Lắk gánh chịu tổn thất ước tính lên đến 2.009 tỷ đồng với 11.811 ha lúa và 47.835 ha cà phê bị thiếu nước tưới. Trước thực trạng biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, các phương án dự báo thủy văn hạn vừa 10 ngày và hạn tháng truyền thống tại địa phương bộc lộ sai số lớn, độ tin cậy chỉ dao động từ 50% đến 60% do chủ yếu dựa vào các phương trình hồi quy đơn biến cũ kỹ.

Nhằm giải quyết bài toán cấp bách trên, luận văn tập trung vào mục tiêu nghiên cứu, phân tích và thử nghiệm xây dựng bộ công cụ giám sát, cảnh báo hạn khí tượng và thủy văn tự động, hỗ trợ đắc lực cho công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp và phòng chống thiên tai tại tỉnh Đắk Lắk. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích 18.480 km2 của lưu vực sông Srêpôk thuộc địa phận Đắk Lắk và các vùng phụ cận, với trọng tâm là lưu vực Thượng Srêpôk rộng 12.743 km2. Dữ liệu quan trắc được thu thập liên tục trong giai đoạn lịch sử từ năm 1977 đến năm 2018.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc nâng cao năng lực dự báo sớm dòng chảy cạn và cấp độ hạn hán, giúp giảm thiểu rủi ro mất trắng cho hơn 50.000 ha cây trồng có giá trị kinh tế cao. Kết quả nghiên cứu tạo tiền đề nâng tỷ lệ chính xác của các bản tin cảnh báo nghiệp vụ lên trên 80%, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để các nhà quản lý chủ động điều tiết nguồn nước liên hồ chứa trong suốt mùa khô kéo dài 6 tháng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước lưu vực kết hợp khung phân loại hạn hán tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO). Hệ thống lý thuyết phân định rõ 4 giai đoạn phát triển của hạn hán gồm: hạn khí tượng (thiếu hụt giáng thủy), hạn nông nghiệp (thiếu hụt độ ẩm đất), hạn thủy văn (suy giảm dòng chảy sông suối và tầng ngập nước), và hạn kinh tế - xã hội.

Các khái niệm và chỉ số cốt lõi được tích hợp bao gồm: Chỉ số Hạn thực tế EDI (Effective Drought Index) tính toán theo bước thời gian ngày; Chỉ số Chuẩn hóa Giáng thủy SPI (Standardized Precipitation Index) đánh giá dị thường lượng mưa ở các thang thời gian 1, 3, 6 tháng; Hệ số hạn tổng hợp K hạn (tương tác giữa hệ số khô K khô và hệ số cạn K cạn); và Chỉ số Thiếu hụt Dòng chảy bề mặt SWSI. Nghiên cứu áp dụng mô hình hoàn lưu khí quyển toàn cầu IFS thuộc Trung tâm Dự báo Thời tiết Hạn vừa Châu Âu (ECMWF) để khai thác các trường thông tin khí tượng dự báo tất định và tổ hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn thực đo trên 30 năm tại 6 trạm tiêu biểu: Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Krông Buk, Giang Sơn, Bản Đôn và Cầu 14. Dữ liệu địa hình được trích xuất từ bản đồ số độ cao DEM, kết hợp bản đồ thổ nhưỡng và hiện trạng thảm phủ đất giải đoán từ ảnh vệ tinh Landsat độ phân giải 30x30m.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo đặc trưng tiểu lưu vực, đại diện đầy đủ cho các vùng địa hình từ bình nguyên Ea Súp (cao độ 200m - 300m) đến vùng núi cao Chư Yang Sin (cao độ trên 2.000m). Lý do lựa chọn mô hình SWAT (Soil and Water Assessment Tool) cho dự báo hạn vừa 10 ngày là nhờ khả năng mô phỏng chi tiết chu trình thủy văn pha đất và phản ứng của các đơn vị đáp ứng thủy văn HRU. Đối với dự báo hạn dài 1 tháng và 6 tháng, mô hình thủy văn 2 thông số được lựa chọn nhờ cấu trúc tối giản, ít tham số nhưng mang lại độ ổn định cao với chuỗi đầu vào viễn thám. Phương pháp hiệu chỉnh sai số thống kê (downscaling và bias correction) được ứng dụng triệt để nhằm loại bỏ độ lệch hệ thống của mô hình khí tượng toàn cầu IFS trước khi nạp vào mô hình thủy văn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm đã mang lại 4 kết quả nổi bật có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn sâu sắc:

Thứ nhất, phương pháp hiệu chỉnh sai số thống kê đối với các biến lượng mưa và nhiệt độ từ mô hình toàn cầu IFS đã giảm thiểu sai số dự báo từ mức 35% - 40% xuống còn dưới 12% - 15% tại toàn bộ 6 trạm khí tượng nghiên cứu trong năm kiểm định 2018.

Thứ hai, việc thiết lập mô hình thủy văn SWAT cho các tiểu lưu vực Krông Buk và Giang Sơn mang lại hiệu quả mô phỏng dòng chảy vượt trội. Trong giai đoạn hiệu chỉnh và kiểm định, chỉ số Nash-Sutcliffe (NSE) đều đạt từ 0,71 đến 0,86, chỉ số tương quan R2 đạt trên 0,82, phản ánh chân thực quá trình suy kiệt dòng chảy mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 4 với lưu lượng trung bình chỉ chiếm 1,9% đến 5,2% tổng lượng cả năm.

Thứ ba, mô hình thủy văn 2 thông số kết hợp chỉ số SPI và K hạn đã dự báo thử nghiệm thành công tình trạng hạn hán hạn 1 tháng và 6 tháng cho các năm lịch sử 2015 và 2018. Độ chính xác nhận diện các đợt hạn nặng đạt trên 80%, vượt trội 20% - 25% so với phương pháp hồi quy truyền thống.

Thứ tư, tác giả đã xây dựng hoàn chỉnh phần mềm công cụ giám sát và cảnh báo hạn chuyên dụng trên ngôn ngữ C# và VBA kết nối môi trường GIS. Công cụ cho phép tự động xử lý số liệu, mô phỏng thủy văn và xuất bản đồ cảnh báo hạn cùng bản tin tác nghiệp hoàn chỉnh trong thời gian chỉ từ 15 đến 30 phút.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khô hạn gay gắt tại Đắk Lắk bắt nguồn từ sự phân bố mưa không đồng đều, khi 85% tổng lượng mưa tập trung vào mùa lũ, trong khi mùa kiệt kéo dài 6 tháng với lượng bốc hơi tiềm năng tại Buôn Ma Thuột lên đến 1.489 mm/năm (tháng 3 đạt đỉnh 226 mm/tháng).

Trong thực tế, các kết quả mô phỏng có thể được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị đường quá trình dòng chảy thực đo và dự báo (Hydrograph) tại các trạm kiểm soát, cùng các bảng tổng hợp chỉ tiêu thống kê dòng chảy kiệt theo từng tuần. Hệ thống GIS hỗ trợ chuyển đổi dữ liệu thuộc tính thành các bản đồ raster phân vùng cấp độ hạn theo dải màu từ vàng (hạn nhẹ) đến đỏ thẫm (hạn đặc biệt nghiêm trọng). So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ dừng lại ở việc tính toán chỉ số hạn khí tượng đơn lẻ, việc kết nối liên hoàn giữa mô hình dự báo toàn cầu IFS, mô hình SWAT và mô hình 2 thông số đã khắc phục triệt để độ trễ pha giữa hạn khí tượng và hạn thủy văn, tạo bước tiến mới trong dự báo tài nguyên nước mặt tại Tây Nguyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa giá trị thực tiễn của công cụ cảnh báo hạn, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Chuyển giao và vận hành phần mềm nghiệp vụ: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk cần tiếp nhận, đưa phần mềm cảnh báo hạn C#/GIS vào quy trình dự báo tác nghiệp thường nhật trong vòng 6 tháng tới, đặt mục tiêu tự động hóa 90% quy trình xuất bản tin dự báo mùa khô.
  • Tối ưu hóa điều tiết liên hồ chứa: Các đơn vị quản lý thủy điện, thủy lợi trên lưu vực sông Srêpôk (như hồ Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Ea Súp Thượng) cần căn cứ vào dự báo dòng chảy 10 ngày và hạn tháng của mô hình SWAT để lập phương án tích nước, đảm bảo duy trì dung tích khả dụng tối thiểu 30% - 35% vào thời điểm cao điểm hạn tháng 3 và tháng 4.
  • Cơ cấu lại mùa vụ nông nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk cần chủ động điều chỉnh lịch gieo trồng vụ Đông Xuân trước 1 tháng dựa trên bản đồ dự báo hạn mùa; thực hiện chuyển đổi 15% - 20% diện tích lúa nước bấp bênh tại các huyện Krông Buk, Ea Súp sang các loại cây trồng cạn chịu hạn cao.
  • Nâng cấp mạng lưới quan trắc tự động: UBND tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng các bộ ngành đầu tư lắp đặt bổ sung 5 đến 8 trạm đo mưa tự động tại các khu vực đón gió thượng nguồn Krông Knô và Krông Bông trong giai đoạn 2020-2022, nhằm nâng cao độ phân giải không gian của dữ liệu đầu vào cho mô hình số trị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai: Giúp các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện nắm bắt kịch bản khô hạn sớm từ 1 đến 6 tháng, từ đó phân bổ kịp thời nguồn kinh phí hỗ trợ chống hạn và chỉ đạo sản xuất sát với thực địa.
  • Chuyên gia và dự báo viên khí tượng thủy văn: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về quy trình hiệu chỉnh sai số dữ liệu toàn cầu ECMWF IFS và kỹ thuật ghép nối mô hình thủy văn SWAT với công nghệ GIS.
  • Doanh nghiệp vận hành công trình thủy lợi, thủy điện: Là cơ sở khoa học chuẩn xác để các kỹ sư tính toán lưu lượng dòng chảy đến hồ chứa trong mùa kiệt, tối ưu hóa công suất phát điện song song với nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu hạ du.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Cung cấp khung phương pháp luận mẫu mực về đánh giá tài nguyên nước, bộ công thức tính toán chỉ số EDI, SPI, K hạn và mô hình 2 thông số cho các đề tài nghiên cứu liên quan đến lưu vực sông miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng những mô hình toán nào để mô phỏng và dự báo dòng chảy? Nghiên cứu kết hợp mô hình số trị khí quyển toàn cầu IFS (ECMWF) với hai mô hình thủy văn chuyên biệt: mô hình phân bố SWAT phục vụ dự báo hạn vừa 10 ngày và mô hình thủy văn 2 thông số phục vụ dự báo hạn dài 1 tháng và 6 tháng.

Chỉ số EDI có ưu điểm gì nổi bật so với chỉ số SPI trong công tác giám sát hạn? Chỉ số EDI tính toán theo bước thời gian ngày dựa trên lượng mưa cần thiết để trả lại trạng thái ẩm bình thường (PRN), giúp xác định chính xác ngày bắt đầu, ngày kết thúc và đỉnh điểm của một đợt hạn khí tượng, trong khi SPI chỉ tính theo các khung tháng cố định.

Độ tin cậy của mô hình thủy văn SWAT trong luận văn đạt mức nào? Trong các giai đoạn hiệu chỉnh và kiểm định tại các trạm Giang Sơn và Krông Buk, mô hình SWAT đạt chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe (NSE) từ 0,71 đến 0,86 và R2 > 0,82, khẳng định khả năng mô phỏng dòng chảy cạn có độ chính xác rất cao.

Hệ thống phần mềm được xây dựng bằng công nghệ gì và có dễ sử dụng không? Công cụ được phát triển trên nền tảng C# và VBA kết hợp thư viện không gian MapWinGIS. Giao diện được thiết kế hoàn toàn bằng tiếng Việt, trực quan, hỗ trợ nhập dữ liệu tự động và xuất bản đồ cảnh báo định dạng ảnh chỉ với vài thao tác chuột.

Tại sao tỉnh Đắk Lắk thường xuyên xảy ra hạn hán khốc liệt trong mùa khô? Do 85% lượng mưa năm tập trung vào 6 tháng mùa lũ, trong khi mùa khô kéo dài với bức xạ mạnh, độ ẩm không khí có thời điểm xuống 11% và lượng bốc hơi đạt gần 1.500 mm/năm, kết hợp với diện tích rừng tự nhiên suy giảm và nhu cầu tưới cà phê tăng vọt.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công quy trình dự báo hạn khí tượng và thủy văn đa thời đoạn (10 ngày, 1 tháng, 6 tháng) áp dụng cho lưu vực sông Srêpôk tỉnh Đắk Lắk.
  • Ứng dụng hiệu quả phương pháp hiệu chỉnh sai số thống kê cho mô hình toàn cầu IFS, giảm sai số khí tượng dự báo xuống dưới mức 15%.
  • Tích hợp thành công mô hình SWAT và mô hình 2 thông số vào bài toán mô phỏng dòng chảy kiệt với chỉ số Nash-Sutcliffe đạt trên 0,75.
  • Đóng gói hoàn chỉnh phần mềm chuyên dụng C#/VBA/GIS giúp tự động hóa toàn diện quy trình thành lập bản đồ và bản tin cảnh báo hạn nghiệp vụ.
  • Nâng cao năng lực chủ động ứng phó thiên tai, bảo vệ nguồn nước và giảm thiểu thiệt hại kinh tế nông nghiệp hàng nghìn tỷ đồng cho tỉnh Đắk Lắk.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến 2025, hệ thống cần tiếp tục được kiểm chứng qua các mùa khô thực tế và tích hợp bổ sung dữ liệu viễn thám độ ẩm đất theo thời gian thực. Hãy liên hệ ngay với các đơn vị chuyển giao công nghệ khí tượng thủy văn để đưa công cụ cảnh báo hạn tiên tiến này vào vận hành thực tế, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững cho vùng đất Tây Nguyên.