Chương 1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT, ĐÁ QUÝ KHU VỰC TÂN HƯƠNG-TRÚC LÂU 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn khu vực Tân Hương-Trúc Lâu 1.1 Vị trí địa lý Diện tích vùng nghiên cứu tập trung vào hai khu vực chính là Tân Hương và Trúc Lâu, trong đó: Khu vực Tân Hương bao gồm các xã Tân Hương, Cẩm Ân, Bảo Ái thuộc huyện Yên Bình; các xã Hòa Cuông, Tân Đồng thuộc huyện Trấn Yên, cách TP. Yên Bái khoảng 10-15 km về phía Tây Bắc.
Khu vực Trúc Lâu gồm các xã Trúc Lâu, Phúc Lợi, Đông Quan và Khánh Hòa thuộc huyện Lục Yên, cách trung tâm TP. Yên Bái khoảng 45-55 Km về phía Tây Bắc, dọc theo đường quốc lộ 70, QL. Vị trí vùng nghiên cứu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng mỏ đá quý Tân Hương Trúc Lâu nằm trong phạm vi đới cấu trúc Sông Hồng, tỉnh Yên Bái, với phạm vi: 104o36’12’’ - 104o41’36’’ kinh độ Đông. Địa hình Đặc điểm đặc trưng của đới Sông Hồng là địa hình dạng núi cao từ Lào Cai với độ cao trung bình 300-400m và thấp dần về phía Yên Bái với độ cao trung bình 50-100m.
Đỉnh cao nhất trong Dãy Núi Con Voi khoảng 1.417m thuộc địa phận xã Long Khánh ở phía Tây Bắc xã Trúc Lâu. Dọc theo Dãy Núi Con Voi địa hình thoải dần về sườn Tây Nam thuộc bờ trái Sông Hồng và sườn Đông Bắc thuộc bờ phải Sông Chảy. Trung tâm khu vực Trúc Lâu nằm ở sườn Đông Bắc của đỉnh Núi Voi, các sườn địa hình ở đây có xu hướng đổ về phía Đông Bắc, đồng thời nghiêng về phía Đông Nam. Hoạt động của các hệ thống đứt gãy có phương Tây Bắc-Đông Nam cùng hệ thống mạng sông suối phát triển mạnh với các suối chính chảy qua trung tâm xã Trúc Lâu ở phía Đông Nam và Làng Chạp ở phía Tây Bắc đã tạo nên hai thung lũng lớn Trúc Lâu và Làng Chạp với các dạng địa hình thung lũng có chiều rộng khoảng 1,5-2 km, chiều dài khoảng 3-4km kéo dài theo phương Tây Bắc-Đông Nam và một số các thung lũng hẹp với chiều rộng 0,5-0,7km, dài 1,5-2km phát triển dọc theo đường QL.70 từ đoạn Km49 đến Km53 (trung tâm xã Trúc Lâu).
Khu vực Tân Hương phân bố ở hai bên sườn Đông Bắc và Tây Nam của trục Dãy Núi Con Voi. Địa hình ở đây có các sườn dốc về hai phía Tây Nam và Đông Bắc, đồng thời thoải dần về phía Đông Nam. Nhìn chung, trong khu vực Tân Hương-Trúc Lâu dạng địa hình xâm thực và bóc mòn phát triển khá mạnh. Bao quanh các thung lũng là dạng địa hình thường có sườn dốc với độ dốc thay đổi từ 10-20o ở trung tâm và đến 30-40o ở nơi tiếp giáp với các sườn núi cao.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hệ thống sông suối và giao thông Hồ Thác Bà trong khu vực nghiên cứu là hồ lớn, đem lại nhiều lợi ích kinh tế, trong đó có nhiều tiềm năng du lịch. Ngoài ra trong phạm vi khu vực nghiên cứu có khá nhiều hồ thủy lợi lớn nhỏ khác với mục đích phục vụ tưới tiêu cho diện tích đất canh tác nông nghiệp trong khu vực và phục vụ các nhu cầu dân sinh khác. Nhìn chung, hệ thống giao thông đường bộ trong vùng nghiên cứu phát triển khá tốt, có đường QL.70 chạy từ trung tâm thành phố Yên Bái qua xã Tân Hương (Km15) đến xã Trúc Lâu (Km 53) và đi đến trung tâm các huyện Lục Yên, Bảo Yên và trung tâm thành phố Lào Cai.
Tại một số trung tâm dân cư dọc theo đường QL. Yên bái đến xã Trúc Lâu có các đường giao thông cắt ngang qua dãy Núi Con Voi nối với hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt chạy sát bờ trái Sông Hồng. Ngoài ra, hệ thống đường giao thông liên thôn, bản trong các vùng cũng khá phát triển, có thể đi lại bằng ôtô hoặc xe máy. Giao thông trong vùng phát triển là một trong những điều kiện thuận lợi cho công tác khảo sát cũng như nghiên cứu địa chất và thăm dò, khai thác đá quý ở đây.
Khí hậu Khu vực Tân Hương-Trúc Lâu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Nhiệt độ trung bình từ 22-24oC, cao nhất là 38-40oC, thấp nhất từ 2-5oC, độ ẩm trung bình 68-72%. Lượng mưa trung bình hằng năm 1500-2200 mm. Kinh tế Kinh tế trong vùng nhìn chung khá phát triển, sản xuất nông lâm nghiệp chủ yếu là trồng lúa nước; trồng chè, quế, cây lâm nghiệp, vv… Hoạt động thương mại có các trung tâm buôn bán nhỏ như chợ Tân Hương (Km15), chợ Cẩm Ân (Km 19), chợ Bảo Ái (Km 23) và chợ Trúc Lâu (Km 51) dọc theo đường QL.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dân cư Dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, người Dao, ít hơn là người Tày, vv., phần lớn sống tập trung thành các cụm dân cư, phân bố ở trung tâm các xã như Tân Hương, Cẩm Ân, Bảo Ái, Hòa Cuông, Tân Đồng (khu vực Tân Hương) và các xã Phúc Lợi, Trúc Lâu, Khánh Hòa (khu vực Trúc Lâu).2 Lịch sử nghiên cứu địa chất và đá quý khu vực Tân Hương-Trúc Lâu 1. Lịch sử nghiên cứu địa chất ở khu vực Tân Hương-Trúc Lâu Khu vực Tân Hương-Trúc Lâu có diện tích khá rộng, phân bố trọn trong phạm vi đới Sông Hồng. Về cơ bản, các đặc điểm địa tầng, magma, kiến tạo và khoáng sản ở khu vực Tân Hương-Trúc Lâu đã được phản ánh khá rõ trong các công trình nghiên cứu địa chất ở quy mô khu vực trước đây trong phạm vi đới Sông Hồng.
Năm 1937, trong công trình “Bản đồ Địa chất Đông dương tỷ lệ 1:2., 1937), các thành tạo biến chất cao phân bố ở bờ trái Sông Hồng lần đầu đã được xác lập với tên gọi “phức hệ kết tinh cổ Sông Hồng” có tuổi Arkei. Năm 1965, trong công trình “Bản đồ Địa chất Miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1: 500.E và nnk, 1965), các thành tạo “phức hệ kết tinh cổ Sông Hồng” (Fromage J., 1937) đã được xếp vào phức hệ Sông Hồng tuổi Arkei (Ar sh). Từ năm 1986 đến năm 1991, nhiều công trình nghiên cứu về địa chất, kiến tạo, sinh khoáng ở các tỷ lệ khác nhau bao phủ diện tích Miền Bắc Việt Nam cũng như đới sông Hồng đã được công bố như: “Bản đồ Địa chất Việt Nam-phần Miền Bắc, tỷ lệ 1: 1.000” (Trần Văn Trị và nnk, 1977); “Bản đồ Địa chất Việt Nam, tỷ lệ 1: 500.000” (Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1988); “Bản đồ sinh khoáng Việt Nam tỷ lệ 1: 1. Cũng trong thời gian này, một số nhiệm vụ nghiên cứu, điều tra, thành lập bản đồ địa chất và khoáng sản ở khu vực đới Sông Hồng đã được tiến hành, trong đó ngoài các kết quả nghiên cứu về magma, kiến tạo và khoáng sản thì địa tầng của các đá biến chất trong đới Sông Hồng cũng được xác lập như: “Bản đồ Địa 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất tờ Tuyên Quang, tỷ lệ 1:200.000” (Phạm Đình Long và nnk, 1968), trong đó các đá biến chất ở đới Sông Hồng đã được phân chia thành ba hệ tầng đều có tuổi Paleoproterozoi: Lục Liễu (PR ll), Tây Cốc (PR tc) và Thái Ninh (PR tn); “Bản đồ địa chất Lào Cai và Kim Bình tỷ lệ 1:200.000” (Bùi Phú Mỹ và nnk, 1971), trong đó các đá biến chất cao phân bố ở đới Sông Hồng đã được xếp vào hệ tầng Sông Hồng (PR?sh); “Bản đồ địa chất tờ Yên Bái, tỷ lệ 1:200.000 (Nguyễn Vĩnh và nnk, 1978), theo đó các đá biến chất thuộc phức hệ Sông Hồng đã được phân chia thành 3 hệ tầng: Núi Con Voi (PR1nv), Tây Cốc (PR1tc) và Thái Ninh (PR1tn); “Bản đồ Địa chất tờ Bắc Quang–Mã Quan tỷ lệ 1:200.
Có thể thấy rằng, đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trên phạm vi đới Sông Hồng nói chung và khu vực Tân Hương-Trúc Lâu nói riêng, về địa tầng, magma, kiến tạo và khoáng sản đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với những mức độ khác nhau. Đây được coi là những nguồn tài liệu có giá trị khoa học quan trọng đối với các công tác nghiên cứu địa chất tiếp theo trong đới sông Hồng cũng như khu vực Tân Hương-Trúc Lâu, đặc biệt trong nghiên cứu về địa chất đá quý ruby, saphir. Lịch sử nghiên cứu địa chất đá quý khu vực Tân Hương-Trúc Lâu Năm 1986, Lê Đình Hữu và Nguyễn Văn Ngọc đã phát hiện ra sự có mặt của ruby ở khu vực Ngòi Hóp. Phát hiện này đánh dấu cho lịch sử nghiên cứu địa chất đá quý ruby, saphir trong đới Sông Hồng.
Từ sau phát hiện này, trong các nghiên cứu địa chất đới Sông Hồng nói chung, thì, ngoài các mục tiêu và nhiệm vụ chính, đá quý ruby, saphir cũng là đối tượng được quan tâm. Năm 1993, cũng ở khu vực Ngòi Hóp, tập thể tác giả của đề tài “Nghiên cứu các nguồn kaolin ở Hoàng Liên Sơn-Vĩnh Phú phục vụ sản xuất giấy và xuất khẩu (Lý Bá Tiến và nnk, 1993) đã phát hiện được một tảng corindonit nặng khoảng 20kg phân bố trong trầm tích Đệ Tứ. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khoảng đầu năm 1994, ruby, saphir chất lượng ngọc đã được phát hiện ở khu vực Ao Bèo, Đồi Thủy Sản (thuộc mỏ đá quý Tân Hương), xã Tân Hương, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Tiếp đó ruby, saphir đã được tìm thấy ở nhiều nơi khác trong khu vực như ở các xã Tân Đồng, Cẩm Ân, Bảo Ái, Trúc Lâu (thuộc mỏ đá quý Trúc Lâu), Làng Chạp, Phúc Lợi.
Trong giai đoạn này, các hoạt động tìm kiếm và khai thác đá quý trong vùng đã diễn ra sôi động, thu hút được sự quan tâm của các nhà địa chất cũng như các doanh nghiệp, doanh nhân trong nước và quốc tế. Năm 1995, trong Báo cáo tổng kết Đề tài “Nguồn gốc, quy luật phân bố và đánh giá tiềm năng đá quý-đã kỹ thuật Việt Nam” (Nguyễn Kinh Quốc và nnk, 1995), các tác giả đã cho rằng ruby, saphir trong các đá plagioclasit ở khu vực Tân Hương được thành tạo do hoạt động của magma xâm nhập kiềm phức hệ Tân Hương dưới tác dụng của các dung dịch hậu magma gây biến chất trao đổi các đá vây quanh. Trong các năm 1996-1998, các Đề án “Thăm dò đá quý và bán quý các khu vực Khuôn Giỗ, Yên Ngựa, Tân Trung” (Nguyễn Văn Chế và nnk, 1997), “Khảo sát, đánh giá đá quý khu Trúc Lâu-Làng Chạp, Lục Yên-Yên Bái” (Nguyễn Hữu Thăng và nnk, 1998) của Tổng công ty Đá quý và Vàng Yên Bái thuộc Tổng công ty Đá quý và Vàng Việt Nam đã được triển khai.