Chương 1 bao gồm : Sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Trung Hoa và Nhật Bản thời cổ trung đại, tiếp theo là trình bày khái quát về bối cảnh xã hội tôn giáo Nhật Bản trước và sau khi các vị thần nước ngoài du nhập vào Nhật Bản thời cổ trung đại và sau cùng là phần giới thiệu sơ lược sáu vị thần nước ngoài trong Thất Phúc Thần. Sự giao lưu tiếp biến văn hóa Thuật ngữ tiếp biến văn hóa trong tiếng Anh là acculturation, được từ điển Merriam- Webster định nghĩa là sự sửa đổi văn hóa của một cá nhân, nhóm hoặc tập thể con người bằng cách thích nghi hoặc vay mượn những đặc điểm từ một nền văn hóa khác. (Merriam-Webster Dictionary, 2022) Thuật ngữ này lần đầu tiên được các nhà nhân chủng học người Mỹ sử dụng vào cuối thế kỷ 19 để chỉ sự biến đổi văn hóa của người da đỏ châu Mỹ, và sau đó được các học giả người Đức sử dụng và trở thành một thuật ngữ kỹ thuật sau những năm 1930. Trong tiếng Nhật, tiếp biến văn hóa thường được gọi là Bunka henyo (Văn hóa biến dung 文化変容).
Sự giao lưu tiếp biến văn hóa đã và đang được nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn nghiên cứu như: nhân học, xã hội học, tâm lí học, văn hóa học…Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có những quan điểm thống nhất với nhau. Kroeber (1948) đã nhận định Giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình tương tác lẫn nhau giữa hai nền văn hóa tiếp xúc với nhau. Và có hai trường hợp xảy ra. Một là sẽ có một nền văn hóa bị cuốn vào trong một nền văn hóa ngoại lai, nghĩa là bị thay đổi bởi một nền văn hóa khác.
Hai là cả hai nền văn hóa cùng thay đổi. (Kroeber, 1948, trang 425) 12 Robert Redfield, Ralph Linton và Melville Herskovits (1936) cùng nêu các nhận định : “Tiếp biến văn hóa được hiểu là những hiện tượng xảy ra khi những nhóm các cá thể có văn hóa khác nhau tiến hành tiếp xúc trực tiếp và lâu dài, với những thay đổi sau đó đối với mẫu hình văn hóa ban đầu của một trong hai hoặc cả hai nhóm”. (Redfield, Linton, & Herskovits, 1936, trang 150) Đồng ý với quan điểm của các nhà nghiên cứu người Mỹ nói trên, Hà Văn Tấn (1981) quan niệm : Tiếp biến văn hóa được hiểu là quá trình tiếp xúc lâu dài của hai hay nhiều nền văn hóa dẫn đến sự biến đổi mô thức văn hóa của một hoặc hai hay các nền văn hóa ấy. (Hà Văn Tấn, 1981, trang 45) Nhà nhân học Franz Boas hình ảnh hóa bằng cách cho rằng các nền văn hóa như là bao gồm vô tận các sợi chỉ lỏng lẻo, mà hầu hết đều có nguồn gốc từ bên ngoài, nhưng được đan dệt lại với nhau thành một tấm thảm văn hóa mới của chúng.
Hành động sáng tạo văn hóa của một dân tộc cơ bản là kết quả tích lũy của truyền bá văn hóa. (Boas, 1994, trang 57) Công trình nghiên cứu “Tiếp biến và hội nhập văn hóa ở Việt Nam” (2016) cũng đã mô tả sự giao lưu tiếp biến văn hóa một cách sinh động là giống như một “lò luyện hợp văn hóa” : nền văn hóa bản địa có bước đầu là “pha trộn nhiều yếu tố văn hóa khác biệt nhau” từ nền văn hóa bên ngoài rồi dần dần, quá trình đó đã tiến hành bản địa hóa, tiến tới một “kiểu phản ứng hóa học” và tạo ra “hợp chất mới”, mang “nhiều sắc thái và nguồn gốc”, nhưng được xem là thành phẩm của riêng nền văn hóa bản địa đó. Nguyễn Văn Kim (2016) đã thêm vào một điều kiện để quá trình này được thành công là nền văn hóa bản địa phải có một bản sắc, bản lĩnh văn hóa mạnh của riêng mình nhưng vẫn đậm chất khoan dung (Nguyễn Văn Kim (cb) , 2016, trang 56) Nền văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng đều có xu hướng đồng nhất hóa một nét văn hóa được vay mượn từ một nền văn hóa khác, bằng cách biến đổi nó và làm cho nó phù hợp với các giá trị của riêng mình. Các nền văn hóa khác nhau không độc lập và bất biến, mà luôn tồn tại những tiếp xúc, những tương tác làm biến đổi chúng.
(Nguyễn Thừa Hỷ, 2012, trang 20) 13 Hoài Hương Anbert - Nguyên và Michel Espagne đưa ra nhận xét về lợi ích của giao lưu tiếp biến văn hóa : “những cuộc giao lưu giữa các nền văn hóa dẫn đến sự hình thành các tri thức mới”. Như vậy có thể nhận định là giao lưu tiếp biến văn hóa được xem là một hiện tượng của một nền văn hóa bản địa có quá trình tiếp nhận có chọn lọc một số yếu tố văn hóa ngoại lai, sau đó lại tiến hành biến đổi các yếu tố từ bên ngoài đó cho phù hợp với văn hóa bản địa. Trải qua hàng trăm năm biến đổi liên tục thì các yếu tố được biến đổi đã trở thành những yếu tố văn hóa bản địa có nguồn gốc nước ngoài và góp phần làm phong phú nền văn hóa bản địa. Sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Hoa thời cổ trung đại Nhật Bản có đặc thù là nằm giữa đại dương bao la, không có chung đường biên giới liền kề với các quốc gia khác.
Là một quốc đảo trơ trọi giữa biển khơi, trong các giai đoạn lịch sử trước khi có sự xuất hiện của người phương tây, Nhật Bản thường chủ động du nhập các yếu tố văn minh từ nước ngoài. Và một trong những nền văn minh nước ngoài lớn nhất, rực rỡ nhất thời cổ trung đại là Trung Hoa với vị trí địa lý tương đối gần Nhật Bản nhất. Văn hoá Trung Hoa được truyền sang Nhật Bản trong khoảng thế kỷ thứ 6 -7 chủ yếu bắt nguồn từ sự chủ động du nhập của người Nhật. Từ thời cổ đại, người Nhật đã vượt sóng gió đại dương, mạo hiểm sinh mạng để mang về quốc gia mình những giá trị văn hóa văn minh từ nước ngoài tiên tiến hơn.
Nói là nguy hiểm là bởi vì dù người Nhật từ xưa rất giỏi nghề đi biển nhưng kỹ thuật đóng thuyền, nghề đi biển của người xưa nói chung cũng như người Nhật cổ nói riêng chưa phát triển cho nên mỗi chuyến đi đều phải liều lĩnh đặt cược tính mạng của thủy thủ đoàn – những sứ giả ưu tú nhất được cử đi nước ngoài học tập. Người Nhật phải tự mình đi xa vì với khoảng cách địa lý xa xôi thì làm sao nước ngoài có thể mang văn minh đến cho họ. Những gì học được, mang được về từ Trung Hoa thời đó rất được xem người Nhật cổ xem trọng vì cái giá phải trả rất khó khăn, vất vả và nguy hiểm. 14 Nhật Bản nhận thức được rằng Trung Hoa là một nền văn minh lớn, đáng để học tập và rất coi trọng văn hóa Trung Hoa.
Ở chiều ngược lại, nước Trung Hoa lúc đó rất hùng mạnh và tự coi mình là khuôn vàng thước ngọc – chuẩn mực cho cả thế giới học theo, cho nên thường không quan tâm gì đến văn hóa các nước xung quanh. Trung Hoa thường xem các quốc gia khác mình là “ man di mọi rợ”, chưa văn minh. Điều đó được thể hiện trong tên gọi các nước phía Nam Trung Hoa là “Nam man”. Các nước phía Bắc Trung Hoa là “ Bắc địch” và phía Tây là “ Tây nhung”.
Còn phía Đông như Nhật Bản thì gọi là “ Đông di”. Như vậy, sự giao lưu văn hóa thời cổ đại giữa quan hệ Nhật Bản – Trung Hoa trước khi Nhật Bản trở thành cường quốc nhìn chung chỉ là sự giao lưu văn hóa một chiều. Nhật Bản đã cử nhiều đoàn sứ bộ sang Trung Hoa. Tiêu biểu cho đỉnh cao thời kỳ tiếp xúc với Trung Hoa là thời kỳ Nhật Bản giao lưu văn hóa với nhà Đường ở Trung Quốc với các đoàn Khiển Đường Sứ1 của mình.
Tuy nói là đi sứ nhưng trọng tâm của mỗi chuyến đi là học hỏi cái hay, cái tốt từ nền văn minh Trung Hoa để mang về Nhật Bản bắt chước theo. Kinh thành Nhật Bản được xây dựng tương tự hình mẫu kinh thành thời Đại Đường (Trường An) là một trong những minh chứng rõ ràng nhất. Các sứ giả - những du học sinh đầu tiên của Nhật Bản đã học tập từ thực tế ở nước Trung Hoa bản địa. Họ đã học tập và thâm nhập thực tế ở Trung Hoa sâu đến mức có khả năng làm các vị quan giỏi cho nhà Đường nhiều năm.
Bước tiếp theo, những người con xa xứ này sẽ đưa về Nhật Bản những kiến thức và kinh nghiệm quý giá ở nhiều lĩnh vực (bao gồm cả tôn giáo)… từ Trung Hoa. Và đến các thời đại sau này, cái tinh thần ham học hỏi được truyền lại từ thời cổ đại ấy đã khiến người Nhật lại không ngại vượt khó đi đến những nơi xa xôi hơn như Tây Âu, Hoa Kỳ… để nghiên cứu, học hỏi những điều cần cho đất nước lớn mạnh như kỹ nghệ, triết học, chính trị, cách tổ chức và trang bị quân đội… với kết quả là Nhật Bản trở thành một quốc gia hùng cường sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới. Có thể nói là “Nhật Bản đã đứng trên vai những người khổng lồ”. Có hai phương thức cơ bản để xây dựng một nền văn hóa đặc sắc của một quốc gia.
Một là quốc gia đó tự mình tạo dựng nền tảng văn hóa, điển hình như Trung Hoa, Ấn Độ… Hai là du nhập và sử dụng 1 Khiển Đường Sứ là tên gọi các đoàn sứ giả Nhật Bản sang đi sứ Trung Hoa thời Đường. 15 những yếu tố văn hóa đã có sẵn từ nền văn hóa khác. Việc chủ động sử dụng các yếu tố văn hóa có sẵn của nước khác, đặc biệt từ những quốc gia văn minh hơn để phục vụ cho đất nước phát triển vượt bậc là chiến lược mà Nhật Bản đã triển khai khá thành công. Thời cổ, trung đại là Trung Hoa, thời cận hiện đại là các quốc gia Âu Mỹ.
Nhật Bản cầu học nhưng từ bản thân muốn học, muốn cải cách. Cách học đó là cầu học, trọng thị việc học, chủ động tìm cái hay để học với mục đích tự cường quốc gia. Nhật Bản học hỏi từ những nền văn minh rực rỡ nhất thời bấy giờ là Trung Hoa và cả Ấn Độ (thông qua Trung Hoa). Cũng phải bàn về tâm thế tiếp nhận chính của người Nhật trong việc tiếp nhận văn minh, văn hóa Trung Hoa xưa.
Đó là người Nhật kính phục, học hỏi nhưng trong tâm thế sáng tạo hơn, không rập khuôn với văn hóa Trung Hoa. Tâm thế này thể hiện rõ nhất qua quan điểm về Nho giáo của người Nhật Bản thời cổ trung đại.