mở đầu cho phân ngành nhân học đô thị vào cuối những năm 1930 bằng một nghiên cứu dân tộc học. Đề có được chuyên khảo Xã hội góc pho - Cấu trúc xã hội của một khu 6 chuột của người gốc Y (1943), Whyte đã điền đã ba năm rudi (1936 — 1940) tại một khu phố ở Boston. Ấn tượng ban đầu, đây là một khu phố đáng sợ và nguy hiểm, thậm chí là huyền bí. Tuy nhiên, Whyte đã phát hiện ra những điều hoàn toàn khác: những phần “con người” của xã hội đó.
Ở góc phố Cornervllie này, cuộc sống hàng ngày không chi được điều chỉnh bằng luật pháp mà còn bằng những quan hệ và mạng lưới riêng trong đời sống xã 14 hội. Những mạng lưới này hiện hữu ở nhiều mức độ khác nhau và tạo cho cộng đồng cư dân ở đây một hệ thống xã hội có tổ chức cao và thống nhất. Bên cạnh nhóm thanh niên đường phố là một nhóm học sinh, sinh viên; bên cạnh nhóm các chính tri gia là các thanh niên hu hong, chơi boi. Phân tích những ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế những năm 30 là một môi trường thuận lợi cho nhóm phần tử tiêu cực hoạt động với những việc như đánh bạc, buôn bán rượu, tống tiền., tác giả chỉ rõ những mối dây liên hệ bằng tiền bạc, quà biếu hoặc bảo kê của mạng lưới này với những chính trị gia và cảnh sát khu vực.
Theo Whyte, vấn đề của xã hội học góc phố này chính là ở chỗ làm thé nào mà cộng động dân cư ở đây có thé hòa nhập với khu vực. Tác giả chi ra một khoảng cách giữa Cornerville và phần còn lại của thế giới. Khoảng cách đó khó có thé được lấp đầy khi mà một người được công nhận ở phần còn lại của thế giới sẽ bị đầy ra ngoài rìa của xã hội Cornerville (Whyte, 1993). Khi bàn tới cau trúc xã hội, nghiên cứu nhân học đô thị tat nhiên đề cập tới các mối quan hệ gia đình, làng xóm, thân tộc, tôn giáo và các dạng tô chức xã hội khác.
Những khái niệm đó vốn chỉ được sử dụng trong các nghiên cứu ở những vùng văn hóa bi coi là lạc hậu, cô điển và kì lạ, nay đã được một số nhà nhân học đưa vào nghiên cứu tại khu vực đô thị. Chính sự kết hợp giữa những đối tượng và khái niệm của nhân học truyền thống với mảnh đất mới là môi trường đô thị đã tạo ra những sắc thái và khái niệm mới cho ngành. Sở dĩ nghiên cứu nhân học đô thị có khả năng như vậy là do nó không chỉ mang lại những góc nhìn mới về một van đề truyền thống, ma còn tìm được sự kết nối giữa những nghiên cứu truyền thống và bối cảnh nghiên cứu mới. Oscar Lewis là một nhà nhân học đô thị nôi tiếng với những nghiên cứu về xã hội đô thị ở Mexico những năm 50 — 60 của thé ki XX.
Kết quả của 15 những năm điền dã này là chuyên khảo Năm gia đình — Một số trường hop nghiên cứu ở Mexico về văn hóa nghèo (Five Families — Mexican Case Studies in the Culture of Poverty) (Lewis, 1959). Mỗi quan tâm của ông là van dé đói nghèo tại đô thị và bằng nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra rằng cuộc sống của những người đô thị không chỉ diễn ra ở đô thị mà còn có một sự kết nối chặt chẽ với nông thôn — nơi họ đã sinh ra và lớn lên. Thích ứng được với cuộc sống đô thị không có nghĩa là họ có thể rời xa quê hương — nơi gắn liền với những phương thuốc chữa bệnh và những quan hệ cần thiết cho cuộc sông nơi đô thị. Trong nghiên cứu về người Tepoztlan di cư đến thành phố Mexico, Lewis đã so sánh cuộc sống trong quá khứ và hiện tại của họ.
Một trong những lập luận của ông, khác với quan điểm của nhiều tác giả khác, là đô thị hóa không chỉ có một dạng đơn nhất, mà trên thực tế quá trình này phức tạp hon rất nhiều. D6 thị hóa không chỉ mang đến những khía cạnh tiêu cực cho cư dân đô thị như gia đình tan vỡ, tội phạm và sự suy giảm niềm tin tôn giáo, mà như Lewis chỉ ra, những di dân Tepoztlan còn tiếp tục duy trì được những tục lệ truyền thống. Thay vì cộng đồng bị phá vỡ, gia đình của họ đã được củng có, gan bó chặt chẽ với nhau trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống nơi đô thị. Thêm vào đó, sự suy giảm niềm tin vào tôn giáo bản địa đã được bù đắp bởi sự gia tăng số lượng người theo Công giáo.
Tuy nhiên, Lewis cũng chỉ ra rằng khuôn mẫu cuộc sống đô thị có ảnh hưởng đến đời sống tôn giáo của họ, ví dụ như sự chậm trễ trong việc làm Lễ rửa tội cho đứa trẻ, hoặc là sự suy giảm vai trò của người dan ông trong nha tho. Hơn nữa, dường như người Tepoztlan không thích dùng thuốc men của y học hiện đại ở thành phố. Họ thường về quê lấy những phương thuốc truyền thống để chữa bệnh cho người thân mình. Do đó sợi dây liên kết giữa những người ở lại làng và những người di cư đến đô thị được duy trì bên chặt.
Lewis đưa ra nhận xét rằng “đô thị hóa là một quá trình không đơn lẻ, không đơn nhất và không có 16 tính phố quát mà là các quá trình khác biệt về cả hình thức và ý nghĩa, phụ thuộc vào các điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa cụ thể (Lewis, 1975, tr. Gần như đồng thời với những nghiên cứu về di dân của Lewis ở châu Mỹ La tinh, Clifford Geertz đã tìm hiểu sự phát triển kinh tế - xã hội và những tác động đối với văn hóa đô thị ở Indonexia, thể hiện qua chuyên khảo Nhà buôn và hoàng tử - Biến đổi xã hội và hiện đại hóa kinh tế ở hai thị tran cua Indonexia (Peddlers and Princes — Social Change and Economic Modernization in Two Indonesia Town) (1963). Cũng như nhiéu nghiên cứu của Geertz về các vấn dé tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống, chuyên khảo nay của ông mang lại những đóng góp quan trọng về lý thuyết, ở đây là lý thuyết hiện đại hóa, dựa trên kết quả của hơn sáu năm điền da tại Indonexia từ 1952 đến 1958. Đây cũng chính là thời điểm của nhiều cuộc tranh luận về quá trình phát triển kinh tế ở các xã hội tiền công nghiệp.
Một số nhà kinh tế học cho rang phát triển có thé được xem như một bước nhảy đột phá về chat từ tình trạng trì trệ lên sự tăng trưởng kéo dài. Băng nghiên cứu của mình ở hai thị tran Modjokuto ở đảo Java va Tabanan ở đảo Bali, trong đó thị trấn Modjokuto với truyền thống bán lẻ đã phát triển dần thành nhà máy công nghiệp lớn, còn thị trấn Tabanan ở Bali với truyền thống nông nghiệp thì những người tiên phong phát triển kinh tế thương mại là những thành viên của hoàng tộc, Geertz lập luận rằng cái mà các nhà kinh tế gọi là một bước nhảy vọt về chất chỉ là sự thé hiện băng thuật ngữ kinh tế của một quá trình được xây dựng dan theo thời gian. Thông điệp chính ma Geertz muốn chuyên tải là mỗi làng hay thị tran đều phát triển theo những cách riêng phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và những đặc thù cụ thể của chúng. Đó chính là luận điểm của Geertz khi chỉ ra nhiều tuyến hiện đại hóa và phát triển theo kiểu địa phương.
17 Bên cạnh những nghiên cứu về di dân thì những nghiên cứu về phương cách cư dân đô thị chống chọi với những thay đổi bởi quá trình đô thị hóa cũng là một chủ đề lớn được chú ý. Gần đây là nghiên cứu về các vấn đề mâu thuẫn và xung đột trong giai đoạn đô thị hóa mạnh ở Indonexia và Trung Quốc như Vong quay vận mệnh — Lịch sử của một cộng dong nghèo ở Jakarta (The Wheel of Fortune: The History ofaPoor Community in Jakarta) (1991) của Lea Jellinek, hay Vốn xã hội va đấu tranh tập thé ở một khu pho ở Trung Quốc — Một vận động/phong trào tập thé ở Thượng Hai (Social Capital and Collective Resistance in Urban China Neighborhoods: A Community Movement in Shanghai (2004) của Fayong Shi. Sử dung những khái niệm ly thuyết như vốn xã hội, hành động tập thé. Jellinel va Fayong đã mang lại cho nhân học một cai nhìn mới về cuộc sông von không bình lặng ở đô thi.
Tìm hiểu lich sử của một khu vực chưa phát triển nhưng nằm trong lòng thủ đô Jakarta của Indonexia, Jellinek đã chỉ ra những mâu thuẫn giữa chính quyền địa phương và cư dân của khu vực này trong quá trình đô thị hóa. Một bên là nhà nước muốn biến khu vực kém phát triển này thành một khu phố sạch đẹp với đường giao thông và khu nhà cao tầng hiện đại, còn một bên là những người dân với mong muốn duy trì một cuộc sống bình ồn tại khu vực. Những mâu thuẫn xung quanh việc đền bù đất đai đã dẫn đến phong trào dau tranh tập thể. Một người lãnh đạo đã vạch ra những chiến lược đấu tranh.
Sau bước đầu thắng lợi của cuộc đấu tranh, nội bộ phong trào đã bị phân hóa và chia rẽ vì bị những lợi ích cá nhân cám dỗ. Cuộc đấu tranh đã dần trở nên nguội lạnh sau khi họ mất niềm tin vào người lãnh đạo. Nghiên cứu này mang lại một cái nhìn mới về sức mạnh đoàn kết của người dân đô thị, trái han với lập luận của Louis Wirth (1975) cho răng “quan hệ giữa những người dân đô thị là hời hợt và mong manh, dễ đứt đoạn” (Wirth, 1975, tr. 18 Cũng nghiên cứu về hành động tập thể ở đô thị, nhưng Fayong (2004) đã tiến hành so sánh hành động tập thé diễn ra ở hai khu phố khác nhau ở Thượng Hải, Trung Quốc.
Fayong mong muốn chỉ ra tại sao người dân ở các khu phố khác nhau lại có những phương pháp, chiến lược khác nhau và dẫn đến những mức độ thành công trong đấu tranh khác nhau. Sử dụng khái niệm vốn xã hội trong nghiên cứu về hành động tập thé, Fayong đã khắc họa một mạng lưới quan hệ xã hội được những nhà hành động tận dụng triệt dé nhăm đạt được mục đích của nhóm mình. Bên cạnh đó, Fayong cũng chỉ ra sự khác biệt giữa vốn xã hội ràng buộc theo chiều ngang và vốn xã hội kết nối theo chiều dọc. Ông cho rằng nếu như vốn xã hội theo chiều ngang tạo ra sự gắn bó giữa những người tham gia đấu tranh, thì vốn xã hội theo chiều dọc đem lại kết quả cho cuộc đấu tranh đó.