Đặt vấn đề Nguồn tài nguyên cây thuốc của Việt Nam rất phong phú, đa dạng và có nhiều cây thuốc quý. Trong số đó có cây Đinh lăng. Đinh lăng (Polycias fruticosa L.) là một loại cây dƣợc liệu có giá trị cao trong ngành y học cổ truyền ở Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tác dụng dƣợc lý của Đinh lăng tƣơng tự nhƣ nhân sâm và ít độc hơn nhân sâm.
Vỏ, rễ và lá Đinh lăng chứa saponin, alkaloit, các vitamin B1, B2, B6, C, 20 axit amin, glycosit, phytosterol, tanin, axit hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lƣợng: K, Mn, Ca, Mg, Fe, Lo, Zw và 21,10 % đƣờng. Hai hợp chất chính và quan trọng nhất trong cây Đinh lăng là polyacetylen và saponin tripterpen. Trong đó, hợp chất polyetylen tách chiết đƣợc có tính kháng khuẩn rất mạnh và kháng một số dạng ung thƣ, còn hợp chất saponin tripterpen có tác dụng chống stress, chống trầm cảm, chống oxi hóa rất tốt [13], [14], [20]. Dựa trên những nghiên cứu về dƣợc tính của cây Đinh lăng, một số chế phẩm từ Đinh lăng hiện nay đang đƣợc sử dụng nhƣ cao đặc Đinh lăng, tinh sâm PANA, rƣợu thuốc ngọt, viên ngậm DINLAN.
Điều này cho thấy nhu cầu về nguồn nguyên liệu Đinh lăng để làm thuốc chữa bệnh ngày càng tăng. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu khai thác trong tự nhiên thƣờng phân tán, cho chất lƣợng không đồng đều và số lƣợng hạn chế. Vì vậy, nhân giống in vitro là phƣơng pháp ƣu việt nhằm thu nhận nguồn nguyên liệu ổn định, cây giống đồng đều, sạch bệnh, làm tăng hoạt chất sinh học so với nguyên liệu ban đầu. Cây đinh lăng mang giá trị dƣợc liệu rất cao nhƣng các chế phẩm chứa Đinh lăng còn khá ít trên thị trƣờng, nguyên nhân là do nguồn nguyên liệu còn hạn chế, nếu trồng theo phƣơng pháp tự nhiên thì cần phải 3 - 5 năm mới thu hoạch đƣợc rễ.
n 2 Để thúc đẩy việc sử dụng Đinh lăng trong sản xuất dƣợc phẩm cần đảm bảo vấn đề nguyên liệu, hiện nay các mô hình trồng cây đinh lăng với quy mô lớn đủ để làm vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp dƣợc liệu là chƣa có, vì việc nhân giống bằng phƣơng pháp giâm hom truyền thống tuy đơn giản giá thành rẻ nhƣng để có đƣợc một số lƣợng cây giống lớn thì phải mất rất nhiều vụ gây nuôi mất thời gian và cây con không đồng đều. Mặt khác trồng theo phƣơng pháp truyền thống phải mất thời gian dài mới đƣợc thu hoạch. Vì vậy, để giải quyết những vấn đề trên thì tạo cây giống thông qua con đƣờng nuôi cấy mô là một giải pháp hữu hiệu. Với mục tiêu tạo ra giống cây Đinh lăng có thời gian sinh trƣởng nhanh và đảm bảo chất lƣợng cũng nhƣ số lƣợng phục vụ cho sản xuất trên quy mô lớn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu nhân giống cây Đinh lăng lá nhỏ (Polyciasfruticosa L.) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật”.1: Cây Đinh lăng n 3 1.2 Mục tiêu của đề tài Xác định đƣợc công thức môi trƣờng phù hợp để nhân nhanh giống cây Đinh lăng lá nhỏ (poliscias fruticosa L.) bằng phýõng pháp nuôi cấy mô tế bào 1.3 Yêu cầu của đề tài - Xác định đƣợc thời gian khử trùng thích hợp - Xác định đƣợc môi trƣờng nuôi cấy thích hợp đến khả năng tái sinh Đinh lăng lá nhỏ.
- Xác định đƣợc ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh trƣởng (BA, Kinetin, NAA) đến qua trình nhân nhanh chồi, ra rễ chồi Đinh lăng lá nhỏ. - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của nồng độ NAA đến khả năng cảm ứng rễ của chồi Đinh lăng lá nhỏ. - Xác định đƣợc loại giá thể phù hợp đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây con invitro trong vƣờn ƣơm.4 Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học Sau khi đề tài hoàn thành đã bổ xung vào kiến thức lý thuyết đã đƣợc học thông qua hoạt động nghiên cứu thực tiễn, giúp cho bản thân có thêm kiến thức, tích lũy đƣợc kinh nghiệm thực tế, đồng thời tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học để phục vụ cho công việc nghiên cứu và các công tác khác. - Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu thành công sẽ tạo ra đƣợc một lƣợng lớn cây Đinh lăng giống sạch bệnh có chất lƣợng tốt, cung cấp đủ lƣợng giống cần thiết phục vụ cho sản xuất đại trà.
Nghiên cứu còn tạo ra những cơ sở khoa học cho việc nhân nhanh nhiều loài cây trồng có giá trị kinh tế khác nhau n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Sơ lƣợc về cây Đinh lăng 2. Nguồn gốc và vị trí phân loại Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynésie thuộc cộng hòa Pháp nằm ở phía nam Thái Bình Dƣơng. Tên khoa học của Đinh lăng là Polyscias fruticosa L.Harms mô tả và định tên vào năm 1894.
Ngoài ra, Đinh lăng còn có tên gọi khác là cây gỏi cá hay cây Nam dƣơng lâm. fruticosa - Chi: Polyscias - Phân họ: Aralioideae - Họ: Araliaceae - Họ ngũ gia bì - Bộ: Apiales - Lớp: Dicolyledoneae - Lớp hai lá mầm - Ngành: Magnoliophyta - Ngành Mộc lan - Giới: Plantae - Giới thực vật Chi Polyscias có gần 100 loài, phân bố rải rác ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt, nhất là một số đảo ở Thái Bình Dƣơng. Ở Việt Nam, có 7 loài, đều là cây trồng (Grushvitzky I., Hà Thị Dung & Arnautov N. Đặc điểm sinh thái Đinh lăng là loại cây chịu hạn, không ƣa nƣớc, phát triển tốt ở vùng đất, tơi xốp có độ ẩm trung bình [12].
Cây cũng có thể chịu bóng râm, trồng đƣợc trên nhiều loại đất, thậm chí với một lƣợng đất rất ít trong chậu nhỏ, cây vẫn có thể sống đƣợc theo kiểu cây cảnh bonsai [1]. Đinh lăng sinh trƣởng mạnh vào mùa xuân hè, ra hoa và quả vào tháng 4 đến tháng 7. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc có hiện tƣợng tàn lụi vào mùa đông do khí hậu lạnh, thƣờng n 5 trồng bằng cành sau 2 đến 3 năm thì cây có quả, hạt. Đinh lăng có khả năng tái sinh dinh dƣỡng mạnh nhƣng chƣa quan sát đƣợc cây con mọc từ hạt.
Cây thƣờng đƣợc trồng bằng cách giâm cành, cây đƣợc 4 đến 5 tuổi trở lên sẽ cho nhiều hoạt chất nhất [1], [9], [12]. Đặc điểm hình thái Đinh lăng (Polyscias fruticosa L.) thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) nên nó mang một số đặc điểm chung của họ này nhƣ: Là cây thân gỗ hay cây bụi, đôi khi là các cây thân thảo sống lâu năm, chúng thƣờng có lá kép hình lông chim hay hình chân vịt và có các hoa nhỏ mọc thành chùy lớn, rễ cây có dáng nhƣ ngƣời gồm một rễ cái và nhiều rễ phụ. Tuy nhiên, Đinh lăng cũng có một số đặc điểm riêng dùng để phân biệt với các loài khác nhƣ sau: Thân Đinh lăng là loại cây gỗ nhỏ, dạng bụi, xanh tốt quanh năm, cây thƣờng cao 1 - 1,5 m (có thể cao đến 2 m hoặc hơn). Vỏ thân màu trắng nhạt, hơi xám, thân nhẵn, không có gai, ít phân nhánh, phân cành thấp, thân mang nhiều vết sẹo lá to hình chữ V, máu xám và những nốt lỗ vỏ, vỏ thân có mùi thơm nhẹ [1], [19], [33].
Lá Lá kép ba lần lông chim, mọc so le, dài 20 - 40 cm, không có lá kèm rõ. Lá chét có cuống nhỏ mảnh dài 3 - 15 cm, dạng màng, phiến lá chét có răng cƣa không đều, đôi khi chia thùy, gốc và đầu thuôn nhọn, có chóp nhọn, dài 3 - 10 cm, rộng 0,6 - 4 cm. Cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở phần cuối. Lá có mùi thơm khi vò nát [2], [19].
Hoa Hoa nhỏ thành cờ, tán ngắn dài 7 - 18 cm, cụm hoa mọc ở ngọn thành chùy ngắn mang nhiều tán, mỗi tán có 15 - 20 hoa nhỏ, lá bắc rộng, sớm rụng. n 6 Đài hoa hình chén, gồm 5 lá đài. Hoa nhỏ, màu lục nhạt hoặc trắng xám, có 5 cánh hình trứng thuôn dài 2 - 3 mm, có 5 nhị, chỉ nhị ngắn và mảnh, dài khoảng 1,5 mm, bao phấn kéo dài, bầu hạ, 2 ô, có rìa trắng nhạt [2], [19], [33]. Quả Quả dẹt, hình trứng rộng, màu tráng bạc, dài 4 - 5 mm, rộng 3 mm và dày 1,5 - 2 mm, có vòi tồn tại.
Hạt hình thận và hình khối 3 cạnh màu trắng, kích thƣớc 3 mm, 2 mm, 1 mm, vỏ hạt lồi lõm. Cây ra hoa, quả vào tháng 4 đến tháng 7 [2], [33]. Rễ Rễ hình củ cà rốt, cong queo, dài 15 - 30 cm, đƣờng kính 0,5 - 2,5 cm, đầu trên to, phía dƣới thuôn nhỏ. Mặt ngoài màu trắng xám, có nhiếu nếp nhăn dọc, nhiều lỗ bì nằm ngang, nhiều vết tích của rễ con và các đoạn rễ còn sót lại.
Thƣờng hợp thành một bó rễ củ, thể chất cứng giòn, dễ bẻ gãy, mặt bẻ lởm chởm, mặt cắt ngang màu vàng, gỗ chiếm 2/3 bán kính, các tia ruột từ giữa tỏa ra, mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt [33]. Trong tự nhiên, dễ có sự nhầm lẫn giữa các cây cùng tên Đinh lăng nhƣng không đƣợc dùng làm thuốc nhƣ: + Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Baill.): Lá thƣờng chỉ có 3 lá chét trên một cuống dài, lá chét hình tròn, đầu tù. + Đinh lăng lá to hay Đinh lăng lá ráng (Polyscias ilicifolia (Merr.): Lá kép, có 11 - 13 lá chét, lá chét hình mác có răng cƣa to và sâu. + Đinh lăng trổ hay Đinh lăng viền bạc (Polyscias guilfoylei Baill.): Lá kép có 7 lá chét, lá chét thƣờng có viền trắng.
Loại này lại có 2 thứ là: - Polyscias guilfoylei Baill. - Polyscias guilfoylei Baill. Cách trồng Đinh lăng đƣợc trồng phân tán khắp nơi để làm cảnh, làm thuốc và làm rau gia vị. Từ năm 1961, do sự nghiên cứu của Viện Y học Quân sự về tác n 7 dụng bổ dƣỡng của cây, nên Đinh lăng đƣợc trồng rộng rãi hơn cả ở các bệnh viện, trạm xá, vƣờn thuốc [2].
Hiện nay, một số nơi đã bắt đầu trồng Đinh lăng ở quy mô sản xuất thử (1000 - 2000 m2) [1]. Đinh lăng sống nhiều năm, trên đất cao ráo, thoát nƣớc, đất có tầng canh tác dày, màu mỡ, không ngập úng, có khả năng chịu hạn và chịu bóng. Có thể trồng Đinh lăng quanh năm, nhƣng tốt nhất vào tháng 2 đến tháng 3. Đinh lăng không kén đất.
Trong trƣờng hợp trồng lớn, đào hốc sâu 20 - 30 cm (nếu cắm cành trực tiếp), hoặc sâu và rộng hơn (nếu đặt bầu hoặc bứng cây con ở vƣờn ƣơm). Hốc nọ cách hốc kia 1 - 1,5 m.