CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG XANH 1.1 Khái niệm về Ngân hàng xanh Ngân hàng xanh là một khái niệm mới hình thành trong hơn 10 năm trở lại đây. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu và tổ chức đã cố gắng đưa ra định nghĩa của riêng họ. Đã có nhiều định nghĩa về Ngân hàng xanh trên thế giới và cũng có thể có sự khác biệt giữa các quốc gia với nhau. Hiểu theo khái niệm rộng, “Ngân hàng xanh là Ngân hàng bền vững”, để phát triển bền vững, các ngân hàng cần nhìn vào một bức tranh lớn và đặt lợi ích của mình song song với lợi ích của môi trường – xã hội (Imeson M.
SOGESID, công ty cổ phần kĩ thuật thuộc sở hữu của nhà nước Ý cho rằng: “Ngân hàng xanh hoạt động như ngân hàng truyền thống, cung cấp các dịch vụ vượt trội cho nhà đầu tư và khách hàng, đồng thời thực thi các chương trình giúp ích cho cộng đồng và môi trường. Ngân hàng xanh không phải là doanh nghiệp hoạt động thuần tuý vì trách nhiệm xã hội, cũng không hoàn toàn là doanh nghiệp thuần tuý vì lợi nhuận mà có sự kết hợp, đảm bảo sự hài hoà và bền vững về kinh tế môi trường-xã hội” (SOGESID, 2013) Theo nghĩa hẹp, Ngân hàng xanh bao hàm các hành động vì môi trường, chẳng hạn như các hoạt động “xanh” không chỉ bên trong mà còn bên ngoài ngân hàng. “Ngân hàng xanh dùng để chỉ các hoạt động khuyến khích các hoạt động môi trường và giảm lượng khí thải carbon, như khuyến khích sử dụng các sản phẩm và dịch vụ xanh; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường để phê duyệt các khoản vay hoặc cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm CO2” (UN ESCAP, 2012). Ngân hàng được coi là “xanh” khi đáp ứng cả hai điều kiện: (i) cung cấp dịch vụ xanh trong ngắn hạn và (ii) có chiến lược kinh doanh dài hạn đáp ứng các tiêu chí về môi trường và trách nhiệm xã hội.
Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Ngân hàng của Ấn Độ (Institute for Development and Research in Banking Technology- IDRBT) định nghĩa: “Ngân hàng xanh là một thuật ngữ tổng quát liên quan đến các ứng dụng và hướng dẫn làm cho các ngân hàng được bền vững trong các bối cảnh kinh tế, môi trường và xã hội. Nó nhằm làm cho các quy trình ngân hàng và các nền tảng hạ tầng công nghệ và công nghệ thông tin đạt được hiệu quả tốt nhất có thể, mà không hoặc chịu ảnh hưởng thấp nhất từ môi trường” (IDRBT, 2013). Nghiên cứu năm 2014 của 9 Singhal và Arya cho rằng: “Ngân hàng xanh nghiêng về hoạt động kinh tế - xã hội và chú trọng yếu tố môi trường thông qua giảm lượng các-bon cả trong và ngoài ngân hàng”. Cụ thể, ngân hàng giảm lượng các-bon trong ngân hàng bằng cách thực hiện các hoạt động trực tuyến, sử dụng hệ thống ATM, mobile banking, các loại thẻ, trao đổi qua thư điện tử nhằm giảm thiểu các hoạt động liên quan đến giấy tờ, văn phòng phẩm, máy điều hoà… Đối với mục tiêu giảm lượng khí thải ngoài ngân hàng, ngân hàng cung cấp các gói tín dụng xanh tài trợ cho các dự án thân thiện với môi trường, giảm thải ô nhiễm, ưu tiên đối với những ngành công nghiệp xanh (Singhal K.
Theo nghiên cứu của Kanak Tara & Ritesh Kumar, Ngân hàng xanh được hiểu là “cách thức cung ứng và đặc tính dịch vụ ngân hàng hướng tới hỗ trợ hoạt động có tác động tích cực đối với môi trường, giảm khí thải các-bon, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, thúc đẩy phát triển bền vững”. Như vậy, ngân hàng xanh bao gồm hai lĩnh vực chính, thứ nhất, sử dụng hợp lý tất cả các nguồn lực, nguồn năng lượng và giảm thiểu các vật phẩm in ấn, thứ hai, khuyến khích và tài trợ cho các hoạt động, các dự án thân thiện với môi trường. Ngân hàng xanh không chỉ có ý nghĩa về sử dụng bền vững các nguồn lực mà còn là cấp phát tín dụng cho những dự án thân thiện với môi trường (Kanak Tara & Ritesh Kumar, 2015) Tại Việt Nam, khái niệm “Ngân hàng xanh” lần đầu được đưa ra tại hội thảo “Tài chính và Ngân hàng xanh” tổ chức ngày 25/6/2013 dưới sự chủ trì của Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) phối hợp với Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính, bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng - đại diện Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) đã giải thích: “Ngân hàng xanh là các hoạt động, nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng nhằm khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải các- bon”. Cho đến nay, cách hiểu này được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về Ngân hàng xanh trong nước.
Theo cách hiểu này, một Ngân hàng xanh sẽ phải tích cực thực hiện các hoạt động như khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ xanh; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường khi duyệt vốn vay; cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm các-bon, dự án về năng lượng tái tạo… Tóm lại, mặc dù có định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, về cơ bản, theo tác giả, khái niệm ngân hàng xanh có thể hiểu là việc ngân hàng gắn liền tổ chức, điều hành và cung ứng dịch vụ ngân hàng với việc thực hiện trách nhiệm xã hội, môi 10 trường và cộng đồng. Thực chất hoạt động ngân hàng xanh cũng tương đồng như hoạt động ngân hàng thông thường và nó cũng được kiểm soát bởi các cơ quan chức năng giống như những gì một ngân hàng truyền thống làm. Tuy nhiên, điểm khác biệt là các Ngân hàng xanh coi trọng các yếu tố về môi trường – xã hội hơn, có cân nhắc tới ảnh hưởng đối với cộng đồng và môi trường trong cách thức cung ứng và sử dụng dịch vụ ngân hàng, đảm bảo khả năng phát triển bền vững. Một ngân hàng thông thường trở thành một ngân hàng xanh bằng cách hướng các hoạt động cốt lõi của mình vào môi trường, thúc đẩy các hoạt động thân thiện với môi trường và giảm lượng khí thải carbon từ các hoạt động ngân hàng, đồng thời trong tất cả các khía cạnh kinh doanh của nó (thu thập tiền gửi, giải ngân tín dụng, tài trợ thương mại, hoạt động cho thuê, quỹ tương hỗ và dịch vụ giám sát,…) được hướng tới bảo tồn và cải thiện môi trường.
Chẳng hạn, trong hoạt động tín dụng, họ kiểm tra tất cả các yếu tố trước khi cho vay, xem dự án có thân thiện với môi trường và có bất kỳ tác động nào không trong tương lai, và sẽ chỉ trao một khoản vay khi nó tuân theo tất cả các tiêu chuẩn an toàn về môi trường.2 Đặc điểm và lợi ích của Ngân hàng xanh 1.1 Đặc điểm của Ngân hàng xanh Các ngân hàng xanh khác nhau về cấu trúc và hoạt động trên khắp thế giới, tuy nhiên có một số yếu tố nhất định để xác định một ngân hàng xanh. Phạm vi của ngân hàng xanh, có thể được xác định trên cơ sở các hoạt động của các ngân hàng liên quan đến môi trường. Các hoạt động này có thể được chia thành hai nhóm, liên quan đến hai loại khía cạnh và do đó có hai loại tác động đến môi trường: trực tiếp và gián tiếp. Tác động trực tiếp đến môi trường liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực của các ngân hàng cho mục đích hoạt động của ngân hàng - điện, dầu, hệ thống sưởi, giấy, chất thải… Tác động gián tiếp đến môi trường liên quan đến tất cả các loại hoạt động mà qua đó ngân hàng có thể gián tiếp có ảnh hưởng đến môi trường, ví dụ như các mối quan hệ với khách hàng của ngân hàng và các điều kiện mà ngân hàng đặt ra đối với họ để cấp các khoản vay và các dịch vụ khác cũng như nhận thức của nhân viên, các hoạt động tiếp thị mà ngân hàng tổ chức có liên quan trực tiếp đến môi trường… 11 Theo đó, một số đặc điểm thường thấy của các Ngân hàng xanh có thể kể đến như bên dưới: Thứ nhất là triển khai các dịch vụ điện tử và tự động hóa.
Nhờ sự ứng dụng và hỗ trợ từ công nghệ hiện đại, đặc biệt là thành quả từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các ngân hàng tích cực triển khai hình thức ngân hàng trực tuyến với đa dạng loại dịch vụ điện tử và đáp ứng được hầu hết các nhu cầu cơ bản như truy vấn giao dịch, biến động số dư, giao dịch rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền trực tuyến, tạo tài khoản tiền gửi … giúp khách hàng không cần phải bỏ lại công việc và đến xếp hàng tại chi nhánh ngân hàng nhưng vẫn có thể hoàn thành các giao dịch của mình từ mọi lúc mọi nơi trong thời gian ngắn. Ngoài ra, các ngân hàng còn phối hợp với các doanh nghiệp, cũng như các cơ quan đoàn thể để hình thành nên một hệ thống các giao dịch tự động, trong đó có nhiều dịch vụ được tích hợp như thanh toán hóa đơn điện nước, truyền hình, Internet, đóng tiền học, trả góp… Hai là, đẩy mạnh hoạt động tín dụng xanh, đầu tư xanh. Các ngân hàng sẽ lựa chọn các dự án có đánh giá các rủi ro liên quan đến môi trường xã hội và ưu tiên cho vay hoặc đầu tư vào các dự án bảo vệ môi trường hoặc ít gây rủi ro đối với môi trường. Các quy định về pháp luật môi trường được đưa vào đánh giá và tuân thủ, đồng thời xây dựng các công cụ đánh giá tác động môi trường và xã hội để triển khai việc đánh giá, thẩm định dự án trước khi cho vay, hướng tới tăng trưởng bền vững và phát triển xanh, khuyến khích doanh nghiệp bảo vệ môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội.
Ba là, thực hiện quản lý, giám sát các dự án của khách hàng để ngăn ngừa nguy cơ, hạn chế/giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường. Các ngân hàng đặt ra các biện pháp quản lý, cũng như đặt ra các yêu cầu, tiêu chuẩn báo cáo với đơn vị thực hiện dự án, mức độ kiểm soát/quản lý tuỳ thuộc vào mức độ tác động, ảnh hưởng của dự án đến môi trường xã hội, nếu vi phạm thì khách hàng phải có trách nhiệm đưa ra và thực thi các biện pháp xử lý, khắc phục. Ngân hàng cũng có thể tham gia tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự án để đảm bảo các quy định, cam kết về môi trường. Bốn là, việc nâng cao tinh thần, năng lực đánh giá của cán bộ ngân hàng và nhận thức của khách hàng đối với hoạt động ngân hàng xanh được chú trọng.