Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Một số quan điểm về cấu trúc, hiệu quả KT - MT của rừng NLKH (1) Quan điểm về cấu trúc Bất kỳ một kiểu rừng nào cũng là tập hợp của các loài cây trong lâm phần. Mặc dù hiện nay còn có những cách hiểu khác nhau về khái niệm lâm phần, nhưng đều thống nhất coi bộ phận cây gỗ trong lâm phần là quan trọng hơn cả.
Tập hợp cây rừng sinh trưởng và phát triển trên một điều kiện lập địa, hình thành một mật độ, một tàn che, tức là tạo nên một hoàn cảnh rừng, một đơn vị sinh vật học hoàn chỉnh. Trong quá trình vận động và phát triển giữa các cây gỗ với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh luôn có một mối quan hệ hữu cơ. Trong điều kiện xác định nào đó, sự liên hệ này tạo nên những quy luật gọi là cấu trúc rừng. Theo Bertram Hush (1971) [35]: “cấu trúc rừng là sự sắp đặt các loài cây và kích thước của chúng trên một đơn vị diện tích rừng nào đó.
Nhìn nhận sự sắp xếp cây rừng theo không gian thẳng đứng sẽ thấy cấu trúc tầng thứ của lâm phần, nếu xét theo không gian nằm ngang sẽ được cấu trúc mật độ hay hình thái phân bố của cây rừng trong lâm phần.” (2) Quan điểm về hiệu quả kinh tế (HQKT) Hiệu quả của một mô hình canh tác là tổng lợi nhuận thu được từ một đơn vị diện tích và trong một đơn vị thời gian của mô hình canh tác. Hiệu quả của một mô hình canh tác thường được xác định bằng cách lấy tổng các nguồn lợi thu được trừ đi những khoản chi phí cần thiết để thực hiện các hoạt động canh tác. Theo phương pháp phân tích kinh tế động của P.Nair (1993) [44], HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh. Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu cầu ngày càng c 3 tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày trở lên khan hiếm.
Việc nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Fiebiger (1993) [38], HQMT là khả năng của HST hay của loại hình canh tác trong việc cải thiện môi trường sinh thái, như: môi trường không khí, đất, nước, v.v… (4) Quan điểm về rừng NLKH Thuật ngữ rừng NLKH mới xuất hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây, sau khi thuật ngữ NLKH được nhận thức rõ và phổ biến. Theo FAO (1996) [37]: “NLKH là tên gọi chung cho các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất, trong đó những cây thân gỗ sống lâu năm (cây gỗ, cây bụi, các cây thuộc họ cau dừa, tre nứa) được kết hợp một cách có tính toán trên cùng một đơn vị kinh doanh với các loài thân thảo và chăn nuôi. Sự kết hợp này có thể tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp nhau về mặt không gian và thời gian.
Trong các hệ thống NLKH, cả hai yếu tố sinh thái học và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau với các bộ phận hợp thành nên hệ thống đó ”. Theo FAO (1998): “rừng NLKH (Agroforest) là rừng được trồng cây nông nghiệp với sự tương tác qua lại giữa các thành phần của nông nghiệp và lâm nghiệp trong một bối cảnh của quản lý tài nguyên thiên nhiên”. Thành quả nghiên cứu (1) Nghiên cứu về cấu trúc Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống. Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp.
c 4 Trong nghiên cứu cấu trúc rừng, người ta chia thành ba dạng cấu trúc: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian. Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của HST rừng. a) Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng Vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng đã được Baur G.
Trong đó, tác giả tập trung vào việc nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó, tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý, cải thiện rừng mưa. Đến năm 1965, Catinot R [3] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến,v. Khái niệm HST được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học.
b) Về mô tả hình thái cấu trúc rừng Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng. Ông chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh được tình c 5 hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi. Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi.
Khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi.W (1952) [27] phân rừng ở Nigeria thành sáu tầng với các giới hạn chiều cao là 6 ÷ 12 m, 12 ÷ 18 m, 18 ÷ 24 m, 24 ÷ 30 m, 30 ÷ 36 m, 36 ÷ 42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao.P (1971) [20] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto-Rico và cho rằng không có sự phân tầng trong khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả. Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng NLKH phục vụ cho công tác phòng hộ tại các vùng hồ còn rất ít.
c 6 (2) Nghiên cứu về HQKT HQKT là một trong những chỉ tiêu quan trọng, là mục tiêu của hoạt động canh tác. Tuy nhiên, việc xác định chính xác HQKT cũng không đơn giản, ngay trong điều kiện thí nghiệm HQKT cũng biến động, nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan như: biến động về giá cả vật tư, thiết bị và các yếu tố chi phí đầu vào cũng như những biến động thị trường của các sản phẩm bán ra v.v… Còn trong điều kiện thực tế sản xuất ngoài những nhân tố ảnh hưởng trên, HQKT còn phụ thuộc vào biến động điều kiện thời tiết từng năm, trình độ kỹ thuật của người dân, mức độ tác động của thiên tai v.v… Cho nên để đánh giá HQKT người ta đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau, từ điều tra thu thập thông tin đến xử lý, phân tích đánh giá hiệu quả. Về phương pháp điều tra: vào cuối thập kỷ 80, tổ chức lương thực thế giới đã đề xuất phương pháp đánh giá nhanh nông thôn - RRA (Rapid Rural Appraisal) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của ngườidân – PRA (Particypatory Rural Appraisal) (Teunchai Lahkaviwattanakul và ChunkLai, 1994). Theo những phương pháp này, HQKT của một phương thức canh tác được xác định trên cơ sở phân tích các thông tin do người dân tự điền vào các phiếu thăm dò in sẵn.
Phương pháp thường cho kết quả nhanh chóng, phản ánh đầy đủ những quan tâm của cộng đồng. Tuy nhiên, thông tin thu được thường tản mạn, phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của người dân. Vì vậy, cần phải có những tiếp cận khéo léo, để người dân tự nguyện cung cấp những thông tin chính xác. Năm 1987 hội nghị quốc tế về RRA được tổ chức tại trường đại học Khonken (Thailand), hội nghị đã thảo luận để thống nhất về phương pháp luận của RRA trong phân tích đánh giá các dự án nông lâm nghiệp (NLN).
Tiếp theo đó PRA được bổ sung và phát triển rộng rãi, khẳng định vai trò của nó như là một công cụ để đánh giá các dự án. Trong thời gian này Gilmour (1990) [39] đã tổng kết các phương pháp tiếp cận lấy nông dân c 7 làm trung tâm (People centred Appraisal). Đây cũng chính là cơ sở của PRA ở Trung đông và Bắc Phi để đánh giá các dự án lâm nghiệp thừa kế kinh nghiệm của J. Mặc dù chưa có phương pháp thích hợp hơn để thay thế RRA và PRA, nhưng cũng phải nói rằng những phương pháp này còn có hạn chế nhất định như không có khả năng đánh giá bản chất của những vấn đề kỹ thuật.Rhoader (1992) [47] đã vận dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân PRA để xây dựng phương pháp “từ nông dân trở lại với nông dân”.
Phương pháp này tỏ ra có nhiều ưu điểm, các thông tin được kiểm tra chéo nhiều lần qua đánh giá lẫn nhau của người dân. Nair (1993) [44] đã hoàn thiện phương pháp “từ nông dân trở lại với nông dân” để quản lý và sử dụng đất. Bằng công cụ PRA, kết hợp với phương pháp thống kê phân tích, W.Rolla (1994) [48] đã đề xuất phương pháp đánh giá tác động kinh tế xã hội và môi trường ở Phillipine. Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là sử dụng phương pháp phân tích đa diện của Nikamp (1987) [46].