ĐẶT VẤN ĐỀ Khái niệm kiến thức bản địa được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm 90 của thế k XX. Theo Louise Grenier, kiến thức bản địa là những hiểu biết độc đáo, truyền thống, địa phương, tồn tại bên trong và được phát triển chung quanh các điều kiện cụ thể mà phụ nữ và nam giới sinh sống ở một vùng địa lý nhất định tích lũy được”1. Theo Ngân hàng thế giới World Bank thì kiến thức bản địa là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi l nh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng đồng. Kiến thức bản địa còn cung cấp cơ sở để xây dựng các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương”2.
Ở Việt Nam, kiến thức bản địa là vốn quý của cộng đồng các dân tộc, là một yếu tố cấu thành bản sắc văn hoá Việt Nam. Kiến thức bản địa đã góp phần quan trọng trong việc phát triển các kỹ thuật phù hợp với điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, văn hoá, phong tục của từng địa phương. Việc tổng kết, lưu giữ và vận dụng nguồn tri thức này vào các chương trình phát triển là một trong những tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Kiến thức bản địa Indigenous knowledge tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở một vùng địa lý xác định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng.Kiến thức bản địa đã được nhiều dân tộc sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp, sử dụng tài nguyên, ứng phó với thiên tai.
Kiến thức bản địa là một giải pháp để các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu cải thiện điều kiện môi trường, tăng tính hiệu quả trong phát triển kinh tế- xã hội và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên bằng những biện pháp ít tốn kém và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện địa phương. Bên cạnh đó, kiến thức bản địa đang được nghiên cứu h trợ cho các nghiên cứu khoa học, làm tăng nguồn tư liệu cơ sở về môi trường, được sử dụng để đánh 1 Working with Indigenous Knowledge: A guide researcher, 1998. 2 Tri thức bản địa cho phát triển, 1998. c 2 giá tác động của qúa trình phát triển, được sử dụng như một công cụ để lựa chọn, ra quyết định.
Tuy vậy, việc thu thập kiến thức bản địa cũng chưa được đầy đủ nhất là những vấn đề có liên quan tới quản lý các loại tài nguyên, sản xuất, văn hóa, xã hội và đặc biệt là một số vấn đề về kinh nghiệm kỹ thuật, áp dụng các kiến thức bản địa, phát huy các đặc tính truyền thống cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội. Tại Nghệ An, trong các dân tộc ít người sinh sống, người Thái chiếm tỉ lệ lớn nhất, 67,64 tổng số dân cư các dân tộc thiểu số 299.490 người trong tổng số 442.787 người) [15], tập trung ở các huyện miền Tây của tỉnh. Cư trú và khai thác lãnh thổ lâu dài trên mảnh đất vùng KBTTN Pù Hoạt, người Thái đã tạo lập cho mình những nét văn hoá riêng không lẫn với các dân tộc khác trong vùng Thổ, Khơ Mú,… và cũng khác với người đồng tộc của họ ở Tây Bắc dân tộc Thái ở Sơn La, Điện Biên,…. Trên cơ sở thừa kế vốn truyền thống văn hoá của người Thái ở Nam Trung Hoa, Đông Nam Á và Tây Bắc, khi vào Nghệ An, sống trong những điều kiện vừa có tính chất chung của núi rừng nhiệt đới vừa có nét riêng do ảnh hưởng các điều kiện địa lí tự nhiên, đặc biệt là địa hình và khí hậu, đồng bào Thái ở Tây Nghệ An đã tích luỹ được nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp.
Những tri thức đó thể hiện sự hài hoà giữa khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên vừa thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về môi trường xung quanh của người dân bản địa. Mặc dù vốn kiến thức bản địa phong phú, nhưng việc sử dụng chúng trong phát triển kinh tế - xã hội của người Thái chưa được thật sự hiệu quả. Người Thái vẫn là dân tộc có nhiều hộ nghèo trong các huyện nằm trong KBTTN Pù Hoạt, đặc biệt là các huyện Kì Sơn, Quỳ Châu, Tương Dương. Tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của người Thái vốn d còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.
Khả năng sử dụng các kiến thức bản địa để thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế của người Thái chưa nhiều. Mặt khác, trước sự phát triển như vũ bão c 3 của khoa học k thuật và xu thế toàn cầu hoá, kiến thức bản địa của người Thái ở Tây Nghệ An đang dần bị mai một, thậm chí có nguy cơ biến mất. Ở Nghệ An các đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu văn hoá các dân tộc. Kiến thức bản địa của các dân tộc thiểu số cũng chưa được chú trọng nghiên cứu, đặc biệt là đối với dân tộc Thái.
Nghiên cứu tri thức bản địa của dân tộc Thái nhằm thu thập, lưu trữ, nâng cao sự hiểu biết các tiến trình phát triển, ứng dụng và điều chỉnh kỹ thuật, góp phần bảo tồn và phát huy những kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở KBTTN Pù Hoạt. Vì vậy, tác giả tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa của người Thái trong quản lý tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An.” Nhằm góp phần nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ kiến thức bản địa của dân tộc Thái, đánh giá khả năng ứng dụng kiến thức bản địa trong phát triển kinh tế - xã hội ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy và kết hợp kiến thức bản địa với kiến thức khoa học một cách hiệu quả trong quản lý rừng theo định hướng bền vững. c 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Thuật ngữ tri thức bản địa” được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong ấn phẩm Indigenous Technical Knowledge: Analysis, Implications and Issues” xuất bản năm 1979.
Sau đó, thuật ngữ này được Brokensha và D.Warren sử dụng vào năm 1980 trong tác phẩm Indigenous knowledge systems and development” và tiếp tục được sử dụng, phát triển cho đến ngày nay trích dẫn theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998. Khái niệm này đã được sử dụng trong trong tác phẩm Làm việc với kiến thức bản địa: một chỉ dẫn cho nhà nghiên cứu” của Louise Grenier 1998. Bên cạnh đó, công trình này đã đưa ra nội dung bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, sự phát triển một tổ chức nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, một số nghiên cứu điển hình và đánh giá, công nhận và thử nghiệm cùng kiến thức bản địa [18]. Các vấn đề sâu hơn trong nghiên cứu kiến thức bản địa như: quan điểm địa phương và nghiên cứu khoa học; mối quan hệ,sự bổ sung cho nhaugiữa khoa học, công nghệ và tri thức bản địa; kiến thức bản địa cho phát triển; Các bên liên quan trong nghiên cứu, sử dụng tri thức bản địa; quyền và sự tham dự của người dân,.
được đề cập trong nghiên cứu "Sự phát triển của tri thức bản địa, một ngành nhân học ứng dụng mới" của Paul Sillitoe 2000. Trong Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa của Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI do Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành 2000 , các vấn đề được phân tích gồm: kiến thức bản địa với sự nghiệp phát triển; các phương pháp ghi chép và đánh giá; đánh giá kiến thức bản địa; các trường hợp nghiên cứu cụ thể; các câu hỏi hướng dẫn; các từ viết tắt và định ngh a[13 .Trong bài viết Kiến thức bản địa và phát triển - Sự cẩn trọng hậu thuộc địa”, John Briggs và Joanne Sharp 2004 đã nhấn mạnh nội dung lắng nghe tiếng nói khác,kiến thức bản địa về môi trường, định vị tri thức bản địa [23]. c 5 Năm 1998, Ngân hàng Thế giới thiết lập chương trình Kiến thức bản địa cho sự phát triển nhằm học tập từ các hệ thống tri thức địa phương phục vụ cho các thực hành phát triển tại các cộng đồng đó và mở rộng tính ứng dụng của các tri thức này. Ngân hàng Thế giới tuyên bố rằng họ cần trao cho những người nghèo trên thế giới cái quyền không chỉ là người tiếp nhận các tri thức khoa học phát triển mà họ phải là những người đóng góp, những người đóng vai trò chủ đạo trong phát triển của chính họ.
Wolfensohn, Chủ tịch Ngân hàng thế giới cho rằng: Kiến thức bản địa là một phần không thể thiếu trong văn hoá và lịch sử của một cộng đồng địa phương. Chúng ta cần thiết phải học hỏi từ các cộng đồng địa phương để có thể thúc đẩy quá trình phát triển” [24]. Trên các vùng lãnh thổ khác nhau củathế giới, các nghiên cứu, ứng dụng kiến thức bản địa khá phổ biến từ thế kỉ XIX. Ở Nam Phi: Các nghiên cứu kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp được thực hiện từ giữa thế kỉ 20.
Tim Hart and Ineke Vorster tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp, thể hiện trong công trình Indigenous Knowledge on the South African Landscape - Potentials for Agricultural Development [21]. Cũng hướng nghiên cứu ứng dụng kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, Edda Tandi Lwoga, Patrick Ngulube, Christine Stilwell đã tiến hành nghiên cứu tại các nước đang phát triển, nhấn mạnh khâu quản lý, bảo tồn tri thức bản địa, thể hiện trong công trình: Managing indigenous knowledge for sustainable agricultural development in developing countries: Knowledge management approaches in the social context(Original Research Article The International Information & Library Review, Volume 42, Issue 3, September 2010, Pages 174-185) [22].Kết quả nghiên cứu trên cho thấy nông dân nắm giữ một số lượng đáng kể kiến thức về các nguồn tài nguyên xung quanh và kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp. c 6 Ở Đông Nam Á: Soh và cộng sự (2012 nghiên cứu tại khu vực bờ biển phía Đông bán đảo Malaysia, đề xuất xây dựng sinh kế bền vững trên cơ sở phát huy tri thức bản địa.