LỜI MỞ ĐẦU Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc là nhóm tài nguyên thực vật rừng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, về thành phần loài, về giá trị kinh tế mang lại, cũng nhƣ về giá trị sử dụng rộng rãi trong việc bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Theo kết quả điều tra tƣơng đối có hệ thống của Viện Dƣợc liệu bộ Y tế, hiện đã ghi nhận đƣợc ở Việt Nam trên 4.000 loài cây thuốc. Trong đó, gần 80% số loài đã biết là cây thuốc mọc tự nhiên. Phần lớn các loài cây thuốc mọc tự nhiên, lại tập trung chủ yếu trong các quần hệ rừng.
Rừng là môi trƣờng sản sinh và tái tạo ra các loài cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao. Nhiều loài có trữ lƣợng tiềm tàng, lên tới hàng chục hoặc hàng trăm ngàn tấn. Thừa nhận rằng, từ nguồn cây thuốc thiên nhiên ở nƣớc ta, mỗi năm đã cung cấp một khối lƣợng lớn các loại dƣợc liệu, góp phần vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và xuất khẩu. Tuy nhiên, do khai thác liên tục nhiều năm, cộng với nhiều nguyên nhân tác động khác, đã làm cho nguồn tài nguyên này bị suy giảm nghiêm trọng.
Hầu hết các loài có giá trị sử dụng cao, vốn có trữ lƣợng lớn, đến nay đều đã bị giảm sút, thậm chí không ít loài còn trở nên hiếm gặp. Các loài vốn hiếm gặp, lại bị lùng sục khai thác thƣờng xuyên, hậu quả là đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng. Số cây thuốc đƣợc đƣa vào diện cần quan tâm bảo tồn ở Việt Nam hiện đã lên tới 144 loài. Vấn đề khai thác bền vững nguồn cây thuốc thiên nhiên, đi đôi với bảo tồn các loài bị đe dọa, đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành Y tế, ngành Lâm nghiệp và các ngành khác có liên quan.
Tỉnh Thanh Hóa nằm ở khu vực bắc Miền Trung, với tổng diện tích tự nhiên tới 11. Đất hiện đang có rừng ở trong tỉnh vào khoảng 436. Rừng ở Thanh Hóa vốn giàu có về tài nguyên, bao gồm cây cho gỗ tốt, cây cho công nghiệp giấy sợi, song mây, cây làm cảnh … và không thể không kể tới cây làm thuốc. Theo kết quả tái điều tra tổng thể của Viện Dƣợc c 2 liệu, năm 2005, đã phát hiện và thống kê đƣợc ở Thanh Hóa trên 750 loài thực vật và nấm có công dụng làm thuốc.
Thanh Hóa là tỉnh có nguồn cây thuốc phong phú, khối lƣợng các loại dƣợc liệu khai thác hàng năm trƣớc đây luôn ở trong nhóm các tỉnh đứng đầu trên toàn quốc. Song, nằm trong bối cảnh chung, nguồn cây thuốc tự nhiên ở Thanh Hóa cũng đang bị giảm đi nhanh chóng. Một số loài có giá trị kinh tế cao đã từng đƣợc khai thác thƣờng xuyên, nhƣ: Báo sâm, Bình vôi, Cốt toái bổ, Đảng sâm, Lá khôi, Hoàng đằng, Thạch hộc, Hoàng thảo, Hà thủ ô, Bảy lá một hoa… nay đã trở nên hiếm hoặc đang lâm vào tình trạng bị nguy hiểm. Nguyên nhân gây nên hậu quả này, trƣớc hết là do nạn phá rừng, làm thu hẹp đáng kể các vùng phân bố tự nhiên và đe dọa sự tồn vong của nhiều loài cây thuốc.
Rừng mất đi, còn kéo theo sự suy giảm của đa dạng sinh học (ĐDSH), cùng biết bao hậu quả tai hại khác. Với mục đích bảo vệ tài nguyên ĐDSH của rừng (trong đó có cây thuốc), UBND và ngành Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa, đã tiến hành quy hoạch và thành lập đƣợc 1 Vƣờn Quốc gia (VQG) và 3 Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), trong đó có Khu BTTN Pù Luông. Khu BTTN Pù Luông đƣợc thành lập năm 1999 với diện tích đƣợc giao quản lý là 17.171,03 ha, trong đó diện tích rừng đặc dụng là 16.862 ha nằm trên địa bàn 2 huyện Bá Thƣớc và Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Để có cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, từ khi thành lập đến nay, đã có vài công trình điều tra cơ bản về khu hệ thực vật, về thảm thực vật rừng và một vài nhóm thực vật quan trọng (Phong lan, hạt trần …).
Theo kết quả điều tra lập danh lục hệ động thực vật năm 2013 tại Khu BTTN Pù Luông hiện có 2.487 loài thuộc 476 họ và 1.329 chi, gồm có 908 động vật; 1.579 loài thực vật, trong đó có 409 loài động thực vật trong sách đỏ Việt Nam. Tuy nhiên hiện chƣa có bất cứ công trình điều tra nghiên cứu cụ thể nào về nhóm tài nguyên cây thuốc ở đây. Mặc dù, nằm trong Khu bảo tồn, đƣợc biết có vùng “Son Bá Mƣời” vốn đƣợc ngành Y tế coi là nơi có tiềm c 3 năng về cây thuốc tự nhiên và cây thuốc trồng ở tỉnh Thanh Hóa. Theo khảo sát sơ bộ thì có khoảng 48 loài cây thuốc đang bị các thƣơng lái đến để thu mua tại cộng đồng trong và quanh Khu BTTN Pù Luông, tuy nhiên số lƣợng thực tế còn cao hơn nhiều.
Việc khai thác cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông đang diễn ra ở mức độ cao là một thách thức đối với công tác quản lý bảo tồn. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lƣợng và mức độ phong phú của các loài cây thuốc, thậm chí dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng một số loài ngoài tự nhiên. Nhƣ vậy, ở Khu BTTN Pù Luông hiện nay còn thiếu các kết quả điều tra, đánh giá toàn diện về hiện trạng tài nguyên cây thuốc. Đây là những cơ sở dữ liệu rất quan trọng để xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồn tài nguyên thực vật cho Khu bảo tồn.
Xuất phát từ những lý do nêu trên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá”. Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu Kết quả nghiên cứu sẽ là bộ số liệu rất có giá trị nhằm bổ sung dẫn liệu về sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà quản lý đề xuất và xây dựng chiến lƣợc bảo tồn tổng thể nguồn tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm, có giá trị tại Khu BTTN Pù Luông. Danh lục các loài cây thuốc của đề tài sẽ hỗ trợ tốt cho việc định hƣớng quản lý, khai thác hợp lý và phát triển bền vững trong tƣơng lai, góp phần cải thiện về đời sống cho ngƣời dân sống trong vùng lõi và vùng đệm của Khu bảo tồn.
c 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới Từ khi con ngƣời ra đời, loài ngƣời đã biết dựa vào rừng để sống. Không chỉ lấy ra từ rừng lƣơng thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con ngƣời còn biết lấy cây rừng làm rau ăn, nấu nƣớc uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh. Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa.
Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trƣng riêng. Nghiên cứu lịch sử dùng các cây làm thuốc của các dân tộc vùng lãnh thổ đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đƣa ra nhiều bằng chứng xác thực. Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trƣớc Công nguyên (TCN) ngƣời dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa,.) để làm lƣơng thực và chữa bệnh.
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B. (1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lƣơng thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốc đƣợc loài ngƣời nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh. Châu Úc đƣợc mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xƣa nhất trên thế giới.
Ngƣời ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cƣ ở đây từ hơn 60.000 năm về trƣớc và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài c 5 cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này nhƣ cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dƣợc thảo của thổ dân đã bị mất đi khi ngƣời châu Âu đến định cƣ. Ngày nay, đa phần các dƣợc thảo ở châu Úc bắt nguồn từ phƣơng Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nƣớc vùng ven Thái Bình Dƣơng.
Dƣợc thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm. Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách dƣợc thảo có tên “De material Medica”.
Quyển sách này bao gồm 600 loại thảo mộc, gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến y học phƣơng Tây và là sách tham khảo chính đƣợc dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII. Cuốn sách còn đƣợc dịch ra nhiều ngôn ngữ nhƣ: tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tƣ và tiếng Hebrew. Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học của chúng. Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống nhƣ các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi.
Cũng trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver omnirierum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê. Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phƣơng, ông đã cho xuất bản cuốn dƣợc thảo “The English Physitian”.