Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do nhiều ngành kinh tế phát triển nên nhu cầu về gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa.
Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài của các chủ rừng. Hệ thống về lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành, phát triển trong hoàn cảnh như vậy. Đến thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết các việc “Khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng hạt ra đời với chu kỳ khai thác dài và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia đều” của Hartig. Phương thức của Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H.Cotta, ông đã chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm. Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng khai thác.
Hiện nay công tác kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. c 4 Cuối thế kỷ 19, phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich xuất hiện, quan điểm của phương pháp này không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau. Phương pháp “Bình quân thu hoạch” mà sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “lý luận rừng tiêu chuẩn” có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như diện tích và trữ lượng vị trí và đưa vào các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác.
Hiện nay phương pháp kinh doanh rừng này được áp dụng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà căn cứ vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng. Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”. Ở Việt Nam Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ Pháp thuộc.
Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi. Từ năm 1955 - 1975, công tác điều tra phân loại đất và phân loại rừng đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi miền Bắc. Sau năm 1975, các số liệu nghiên cứu về phân loại đất, phân loại rừng mới được từng bước thống nhất trong cả nước. Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến 1986, Đỗ Đình Sâm 1994.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiều biện pháp đề xuất cần thiết để sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng c 5 đất. Nhừng thành tự về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trong cả nước.Ở nước ta vấn đề quy hoạch sử dụng đất cho cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu áp dụng. Liên quan đến quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có một số công trình tiêu biểu như Nguyễn Bá Ngãi, Lê Sĩ Trung (đề tài tiến sĩ) và một số luận văn cao học và các tài liệu hướng dẫn áp dụng cho các dự án đầu tư quốc tế (Đức, Thụy Điển.Năm 1975 - 1990, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới tiến hành cơ thám, mô tả ước lượng tài nguyên rừng và chỉ dừng lại ở việc cải tiến các phương pháp quy hoạch để phù hợp với trình độ và thực tế tài nguyên rừng của nước ta. Từ năm 1990 đến nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ tiến hành sơ thám, mô tả để ước lượng tài nguyên hiện có, phát triển vốn rừng và đưa nghề rừng trờ thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế của đất nước.
Vì vậy công tác quy hoạch sản xuất lâm nghiệp ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Ngày 8/7/1999, chính phủ ban hành nghị định 52/1999/NĐ-CP về việc ban hành các quy chế đầu tư và xây dựng. Do đặc thù ngành lâm nghiệp (địa bàn rộng, địa hình chia cắt phức tạp, tư liệu sản xuất là đất đai,.) nên các phương án quy hoạch có những đặc thù riêng biệt. Các công trình quy hoạch lâm nghiệp lâu nay vẫn được coi là “Các công trình quy hoạch và chuẩn bị đầu tư”.
Căn cứ vào mức độ và tính chất quy hoạch có thể phân chia thành các loại sau: - Quy hoạch sơ bộ: Xây dựng các kế hoạch dài hạn mang tính chiến lược, trong đó đánh giá tình hình hoạt động và dự báo xu thế phát triển chung của ngành trên phạm vi thế giới, quốc gia hay lãnh thổ. Đây là những nội dung cơ bản mang tính chất định hướng cho quy hoạch phát triển ngành trong cả thời kỳ quy hoạch, làm cơ sở cho việc triển khai các bước tiếp theo. c 6 - Quy hoạch tổng thể: Nhằm đánh giá chính xác tiềm năng thông qua các yếu tố cần thiết cho mục tiêu phát triển tổng thể. Quy hoạch tổng thể là cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn và hoàn thiện các cơ chế chính sách, tổ chức quản lý sản xuất của các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Quy hoạch phát triển ngành bao gồm các công trình mang tính chất chuyên ngành và các công trình này đòi hỏi sự phối hợp liên ngành nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành. - Quy hoạch chi tiết: Là những dự án đầu tư được xây dựng cho từng công trình cụ thể, khi được cấp thẩm quyền phê duyệt sẽ được ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư. Theo các cấp quản lý, quy hoạch lâm nghiệp được chia thành các cấp sau: - Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Bao gồm quy hoạch cho các Tổng Công ty lâm nghiệp, Công ty lâm nghiệp, Lâm trường, các khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên,. Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp.
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ: Ở nước ta,các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương); huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường). Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội,. Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh rừng như các Lâm trường, các Công ty lâm nghiệp, quy hoạch lâm nghiệp luôn giữ vai trò rất quan trọng, nó là phương án thực hiện kinh doanh trong một thời gian nhất định. Các bước thực hiện một bản phương án quy hoạch: c 7 - Thu thập tài liệu cơ bản (bản đồ, tài nguyên, một số quy luật lâm sinh và những thông số cơ bản về tăng trưởng quần thể, cấu trúc, khả năng tái sinh,.
dân số và lao động tại chỗ). - Xác định các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh (chỉ tiêu về khai thác, nuôi dưỡng, làm giàu rừng, trồng rừng, các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp và nông lâm kết hợp). - Xây dựng phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp. Song song với việc tiến hành áp dụng các công tác quy hoạch lâm nghiệp trong thực tiễn sản xuất, môn quy hoạch cũng được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học.
Trước năm 1975, bài giảng của môn này ở miền Bắc chủ yếu dựa vào giáo trình Điều tra thiết kế quy hoạch rừng dịch từ giáo trình của Trung Quốc và ở miền Nam là giáo trình Điều chế rừng của nước ngoài. Nội dung của giáo trình chủ yếu phục vụ cho việc tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức rừng đồng tuổi, ít loài cây phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng nước ta, có một bộ phận rất lớn rừng tự nhiên khác tuổi, nhiều loài cây. Đồng thời mới chỉ dừng lại ở tổ chức kinh doanh rừng chưa giải quyết sâu sắc về tổ chức quản lý rừng. Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 – 2010 và gần đây là chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã được Chính phủ phê duyệt trong đó có quy hoạch phát triển lâm nghiệp theo vùng (vùng gỗ trụ mỏ Đông Bắc – vùng nguyên liệu giấy sợi trung ương,.), quy hoạch các Lâm trường, Công ty trung tâm miền núi phía Bắc, quy hoạch các nhà máy chế biến ván ép, ván dăm, nhà máy chế biến bột giấy, nhà máy chế biến giấy,.
Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp của nước ta hình thành và phát triển muộn hơn. Hiện nay, công tác này đang trong giai đoạn tiếp tục vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng. c 8 Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.