ĐẶT VẤN ĐỀ Sơn La là t nh có tiềm năng lớn về tài nguyên nước với 35 suối lớn, 2 sông lớn là sông Đà với 32 phụ lưu và Sông Mã với 17 phụ lưu. Tài nguyên nước mặt của toàn t nh vào khoảng 19 tỷ m3. Tài nguyên nước dưới đất phân bố không đều, mực nước thấp, khai thác khó khăn, tồn tại dưới 2 dạng chủ yếu là tầng chứa nước lỗ hổng phân bố trên diện tích khoảng 172km2 và tầng chứa nước khe nứt các tơ phân bố trên diện tích khoảng 140. Trong những năm gần đây, trước tác động của con người khiến cho nguồn nước ở nhiều sông, suối đang bị ô nhiễm, thậm chí cạn kiệt.
Nguyên nhân là do việc đầu tư, xây dựng hàng loạt các công trình thuỷ điện, đập, hồ chứa nước khiến phía hạ lưu thiếu nước; tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn; thói quen lạm dụng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là thuốc diệt cỏ của nông dân trong sản xuất nông nghiệp; ở các khu đô thị, toàn bộ nước thải đô thị chưa qua xử lý được xả, thải trực tiếp xuống suối. Mặc dù tình trạng ô nhiễm nước mặt hiện nay trên địa bàn t nh chưa nghiêm trọng như các t nh miền xuôi, nhưng cũng đáng báo động. Trong đó, phải kể đến hoạt động sản xuất của Nhà máy đường Sơn La, Nhà máy tinh bột sắn đang gây ô nhiễm suối Nậm Pàn (Mai Sơn); việc xả thải chất thải sinh hoạt trực tiếp chưa qua xử lý cũng đang gây ô nhiễm suối Nậm Pàn (huyện Mai Sơn), suối Nậm La (thành phố Sơn La) hoặc việc sơ chế nông sản đã gây ô nhiễm nguồn nước ở Thành phố, Mai Sơn, Thuận Châu và Mộc Châu. Riêng nguồn nước dưới đất trên địa bàn của t nh vẫn giữ nguyên hiện trạng và chất lượng chưa bị tác động nhiều.
Suối Nậm Pàn là nhánh cấp I của Nậm Bú, là nhánh cấp II cuả sông Đà, nằm phía hữu ngạn của sông Đà. Suối Nậm Pàn có tổng chiều dài khoảng 87,27 km chảy qua 03 huyện của t nh Sơn La là Yên Châu, Mai Sơn, Mường La trước khi đổ ra sông Đà [12]. Tuy nhiên, đoạn chảy qua huyện Mai Sơn hiện nay đang được khai thác sử dụng và bị tác động từ hoạt động công c nghiệp, nông nghiệp và sản xuất mạnh nhất. Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường t nh Sơn La giai đoạn 2011 - 2015 và Báo cáo quan trắc môi trường t nh Sơn La năm 2015, 2016 và 2017 chất lượng môi trường nước suối Nậm Pàn đã có dấu hiệu ô nhiễm bởi chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, do sự tiếp nhận nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, y tế của cơ sở sản xuất và khu dân cư.
Với một địa bàn rộng, phát triển như huyện Mai Sơn và suối Nậm Pàn lại có chiều dài tương đối lớn thì công tác quản lý tuy khó nhưng với sự quyết liệt từ những cơ quan chức năng đã phần nào hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong công tác quản lý môi trường nên một số cá nhân, tập thể lợi dụng xả thải trực tiếp mà không qua xử lý khiến cho nguồn nước bị ô nhiễm. Hiện nay t nh Sơn La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng đang thực hiện các chính sách thu hút đầu tư và việc đảm bảo chất lượng nước suối Nậm Pàn để phục vụ sinh hoạt, sản xuất đang được ưu tiên hàng đầu. Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý chất lượng nước suối Nậm Pàn thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”.
Đóng góp của đề tài: - Tổng quan có chọn lọc những vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước, giám sát ô nhiễm nước và vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của khu vực suối Nậm Pàn thuộc huyện Mai Sơn, t nh Sơn La. - Điều tra, đánh giá, cung cấp số liệu và thông tin cần thiết về hiện trạng và diễn biến chất lượng nước suối Nậm Pàn thuộc huyện Mai Sơn, t nh Sơn La. - Xác định nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng nước suối Nậm Pàn thuộc huyện Mai Sơn. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước suối Nậm Pàn thuộc huyện Mai Sơn, t nh Sơn La.
c Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Lịch sử nghiên cứu 2. Trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia đã sớm phát hiện vấn đề ô nhiễm nước và có những giải pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Luật Nước sạch của Hoa Kỳ ra đời năm 1972, khi quốc gia này nhận thấy sự ô nhiễm khủng khiếp từ các dòng sông do nước thải của các nhà máy đem lại.
Nổi bật là sông Cuyahoga ở bang Ohaio, với chiều dài 160km, lưu vực 2.100 km2, bề mặt sông luôn bao phủ một lớp dầu nhờn màu nâu cũng như lớp dầu đen nổi váng trên mặt nước 3 dày khoảng 20cm, không có sinh vật nào có thể tồn tại, mức độ ô nhiễm nặng nề khiến dòng sông đã tự bốc cháy [4]. Để giải quyết vấn đề này, năm 1972 Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy và ra đời Luật nước sạch. Nhờ có luật này nhiều kế hoạch hành động không ch cho sông Cuyahoga mà còn cho tất cả các sông, hồ trên toàn nước Mỹ được thực hiện và sông Cuyahoga đã được hồi sinh. Tại quốc gia này, vai trò của cộng đồng trong kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là vô cùng quan trọng.
Cộng đồng có ý thức cao, được tập huấn bài bản và đã hình thành một mạng lưới rộng khắp góp phần kiểm soát ô nhiễm nước ở các con sông, hồ trên khắp lãnh thổ Hoa Kỳ. Ở Úc, từ năm 1993 chương trình Waterwatch Victoria là một chương trình cộng đồng tham gia kết nối các cộng đồng địa phương với sức khoẻ con sông và vấn đề quản lí nước bền vững được khởi xướng để giúp cộng đồng tham gia vào việc giám sát và quản lí đường thủy trong lưu vực của họ. Năm 2011 Waterwatch Victoria từ những dữ liệu do cộng đồng thu thập được đã chia sẻ dữ liệu trực tuyến và hướng dẫn người sử dụng để có thể truy cập dữ liệu này một cách hiệu quả nhất. c Cùng với sự hỗ trợ về mặt pháp lý, hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trên thế giới đã tiến hành những nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm nước: Richard Helmer, Ivanildo Hespanhol trong nghiên cứu Water Polution Control - 1997, Deanna E.Conners, Susan Eggert, Jennifer Keyes trong Community - Based Water Quality Monitoring By Upper Oconee Watershed Network, 2011, Akinagachi trong nghiên cứu Kinh nghiệm kiểm soát môi trường, 2011.
Tại Trung Quốc, áp dụng Luật phòng và kiểm soát ô nhiễm nước được ban hành năm 1984 và được sửa đổi năm 1996 và 2008 với mục tiêu khắc phục tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng và các tai nạn ô nhiễm nước xảy ra thường xuyên trên toàn quốc, gây tác hại lớn đến sức khỏe cộng đồng và đe dọa ổn định xã hội, thách thức gây gắt với sự phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường nước của chính quyền địa phương, chính quyền địa phương có mục tiêu cụ thể trong thời gian xác định làm giảm ô nhiễm nước, tạo thêm cơ hội cho cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường nước, các giải pháp bảo vệ nguồn nước và môi trường nước phải xuất phát từ cộng đồng; hành vi gây ô nhiễm nước phải xử lý nặng; quy định kiểm soát tổng thải của các chất gây ô nhiễm cơ bản. Ở Malaysia, từ năm 2002 - 2006 “S tham gia của cộng đồng trong quản lí nước” DANIDA và UNDP - GEF tài trợ và Trung tâm Môi trường toàn cầu (GEC) thực hiện thành lập các nhóm cộng đồng tham gia quản lí sông Pencala và hồ Kelana Jaya. Trong quá trình đó đã đào tạo kỹ năng giám sát nước sông cho nhóm cộng đồng nòng cốt và các bên liên quan từ đó đưa kỹ năng vào trường học.
Nghiên cứu và chia sẻ trực tuyến kết quả giám sát chất lượng nước của trường đại học. Có nhiều nhóm hoạt động nhưng có 3 nhóm giám sát hoạt động hiệu quả. Sở Thoát nước và thủy lợi Malaysia (Drainage & Irrigation Department of Makaysia) thừa nhận chương trình giám sát cộng đồng Sungai Pencala và Kelana Jaya đã được như là một mô c hình cho các chương trình cộng đồng theo “1 State 1 River Programme”. Water Project bắt đầu từ năm 2007 nhằm cải thiện chất lượng nước sông Sungai Kinta và từ đó GEC phát triển và chuẩn hóa thành mô hình “Câu lạc bộ quản lý sông” (River Ranger Clu ).
Tại Nhật Bản, Luật kiểm soát ô nhiễm nước được ban hành năm 1970 với mục tiêu tiêu chuẩn môi trường đạt được ở hầu hết các địa phương trong toàn quốc. Trên cơ sở đó, ô nhiễm nước được chia thành nhiều loại khác nhau theo mức độ ảnh hưởng và cơ chế ô nhiễm. Mục đích của kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm là bảo vệ chất lượng nước tương ứng với tình hình sử dụng của vùng nước. Luật kiểm soát ô nhiễm nước của Nhật Bản tập trung vào 3 nội dung chính: Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước liên quan đến sức khỏe con người và bảo vệ môi trường sống xây dựng tiêu chuẩn và quy định về phát thải; kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm.
Tại Philippines, Luật nước sạch ban hành năm 2004 với mục tiêu là ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm nước thông qua cách tiếp cận liên ngành và sự tham gia các đối tác. Luật này quy định về quản lí chất lượng nước, bảo vệ nguồn nước, xử lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm bởi các nguồn gây ô nhiễm khác nhau như: KCN, cộng đồng, hộ gia đình và sản xuất nông nghiệp. Ngoài những quốc gia đã kể trên thế giới còn rất nhiều các quốc gia đã triển khi mô hình kiểm soát ô nhiễm nước dựa vào cộng đồng như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonesia,… và đã rất thành công. Ở Việt Nam Vấn đề ô nhiễm nước cũng đã được nhà nước Việt Nam chú trọng, dù chưa có những văn bản luật chuyên biệt về kiểm soát ô nhiễm nước nhưng vấn đề tài nguyên và ô nhiễm tài nguyên trong đó có cả tài nguyên nước đã có trong một số văn bản luật như: Luật tài nguyên môi trường (2014), Luật tài nguyên nước (2012),.