ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ và xuất khẩu, cung cấp những lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị khác như nguyên liệu dược, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái. Ngoài ra, rừng còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay. Vườn Quốc gia (VQG) có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và mang lại lợi ích cho con người. Hiện nay, VQG trên thế giới đã và đang chịu áp lực từ phía cộng đồng người dân sống xung quanh và trong VQG, chịu áp lực của phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt vấn này càng trở nên phức tạp ở các nước đang phát triển đặc biệt là nước Lào.
Nhiều vùng nông thôn của Lào tài nguyên rừng là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần rừng từ bao đời nay, người dân đã quen sống với rừng, như là nhà ở của họ, họ thói quen chiếm hữu đất đai canh tác, phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng và do đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý VQG. VQG Đông Ăm Pham có diện tích 200.000 ha nằm trong địa bàn của 2 tỉnh Attapeu có diện tích VQG khoảng 175.936 ha, tương đương 87,97% của tổng diện tích và tỉnh Sê Kong có diện tích khoảng 24.064 ha, tương đương 12,03% của tổng diện tích (Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Attapeu, 2016). Hiện nay có khoảng 11 làng bản sinh sống trong VQG và có khoảng 15 làng bản sinh sống xung quanh VQG Đông Ăm Pham với hơn 6.084 người, gồm 9 dân tộc chính là Lào lùm, Brâu, Kayong, Sa đang, Su, Ta ổi, Sa Lắng, Ta liếng và Yae đã sinh sống lâu đời ở nơi đây với những tập quán truyền thống như canh tác nương rẫy, du canh du cư, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy c 2 củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng. Nếu so với những năm gần đây tài nguyên rừng khu vực VQG Đông Ăm Pham gồm các loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao, động vật quý hiếm, lâm sản ngoài gỗ và độ che phủ rừng đã giảm đi rất nhiều do đời sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào nguồn tài nguyên rừng là chính (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Attapeu, 2016).
Có thể nói rằng hiện nay VQG Đông Ăm Pham đang có nguy cơ đe dọa bị xâm lấn cũng như bị tàn phá cao từ các áp lực từ bên ngoài và bản thân bên trong VQG, nên rất cần có sự chung tay tham gia quản lý bảo vệ rừng của mọi cấp mọi ngành và của toàn xã hội, đặc biệt là cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có nghiên cứu nào về đánh giá sự tham gia của người dân trong các hoạt động bảo tồn tài nguyên rừng cũng như đánh giá hiệu quả vai trò sự tham gia của người dân tại VQG Đông Ăm Pham. Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân tại Vườn Quốc gia Đông Ăm Pham tỉnh Attapeu, CHDCND Lào”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng ở VQG Đông Ăm Pham.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cộng đồng Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau (Korten, 1987). Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ), được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội (FAO, 2000).
Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Luật bảo vệ và phát triển rừng, 2004). Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên. Cộng đồng là những công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định hợp tác với nhau vì lợi ích chung hoặc chia sẻ những văn hóa chung. Cộng đồng có 3 đặc trưng: cùng trong khu vực địa lý, hợp tác với nhau và chia sẻ những giá trị văn hóa chung (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005).
Hoskin (1994) cho rằng: “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của Nam và Nữ trong cộng đồng với sự hỗ trợ bên ngoài cộng đồng”. FAO (1982): “Sự tham gia của người dân như là một quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức và như các tổ chức của c 4 chính họ, có khả năng nhận hết nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế thực hiện và đánh giá các phương án tại địa phương”. Hội nghị FAO (1983) lại đưa ra khái niệm: “Sự tham gia của người dân như là sự hợp tác chặt chẽ của họ tới mức người”. Sự tham gia của cộng đồng là sự chia sẻ của cộng đồng đối với các hoạt động cụ thể trong việc xác định các mục tiêu, xác định nội dung cụ thể, triển khai tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá và vận hành tài nguyên thiên nhiên.
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một trong những mô hình quản lý rừng đang thu hút sự quan tâm ở cấp Trung ương và địa phương (Nguyễn Bá Ngãi, 2005). Xét về mặt lịch sử Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tín ngưỡng của các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý rừng, một số địa phương đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng (làng bản , nhóm hộ.) quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, theo đó, cộng đồng với tư cách như một chủ rừng. Ngoài ra, các cộng đồng còn tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nước.
Thực tiễn một số nơi đã chỉ rõ quản lý rừng dựa vào cộng đồng địa phương sống gần rừng là mô hình quản lý rừng có tính khả thi về kinh tế - xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam (Nguyễn Bá Ngãi, 2005 ). Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nước, quản lý rừng tư nhân. Trong thực tiễn, có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, đa dạng và phong phú của phương thức quản lý rừng này càng khẳng định vai trò của quản lý rừng cộng đồng như rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử c 5 dụng vào mục đích lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước khoán cho các cộng đồng khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; rừng và đất rừng của hộ gia đình và cá nhân là thành viên trong cộng đồng tự liên kết lại với nhau thành các nhóm cộng đồng (nhóm hộ) cùng quản lý để tạo nên sức mạnh để bảo vệ, hỗ trợ, đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp (IUCN, 2009). Khái niệm về Vườn Quốc gia VQG là khu rừng được thành lập để mục đích bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên động vật, thực vật, hệ sinh thái rừng và nguồn tài nguyên có giá trị khác, di tích lịch sử, văn hóa, du lịch, môi trường, giáo dục và nghiên cứu khoa học (Luật Lâm nghiệp Lào, 2007).
Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN, 1994) thì vườn quốc gia là: Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển, được chọn để bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai, loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực và chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và thăm quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường. Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau: Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc c 6 đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp. Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái. Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn.