Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KHUẾCH TÁN TRONG CÁC HỆ MẤT TRẬT TỰ VÀ TÍNH CHẤT ĐỘNG HỌC TRONG CHẤT LỎNG CẤU TRÚC MẠNG Hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin đã thúc đẩy mô phỏng trở thành công cụ hữu hiệu trong các vấn đề nghiên cứu thuộc cả lĩnh vực đời sống và khoa học. Trong đó, đối với khoa học vật liệu nói riêng, nhờ phương pháp mô phỏng nên các nghiên cứu cấu trúc vi mô, tính chất đặc trưng của các loại vật liệu trở nên dễ dàng thực hiện. Các kết quả mô phỏng thu được sẽ góp phần dự báo tính chất, hỗ trợ cho quá trình sản xuất, chế tạo vật liệu mới.
Trong nghiên cứu về cơ chế khuếch tán, sử dụng phương pháp mô phỏng rộng rãi đã góp phần nâng cao, cải thiện đáng kể những hiểu biết về bản chất cũng như cơ chế khuếch tán xảy ra trong các hệ mất trật tự. Cụ thể, những năm gần đây một loạt các công trình mô phỏng khuếch tán hệ mất trật tự đã được công bố [65,15,72,77,75]. Tuy nhiên, còn nhiều khía cạnh nghiên cứu chưa được tường minh như: cơ chế khuếch tán, cách thức xảy ra khuếch tán và các nhân tố chi phối quá trình khuếch tán…, vì vậy đòi hỏi cần có nghiên cứu tiếp theo. Để có được một hiểu biết cụ thể tổng quát về các nội dung sẽ nghiên cứu, phần tổng quan này chúng tôi sẽ trình bày những hiểu biết về hệ mất trật tự, khuếch tán trong hệ mất trật tự và khuếch tán trong hệ thực cụ thể là chất lỏng có cấu trúc mạng SiO2.
Các tính chất động học và ảnh hưởng của hiệu ứng tương quan đến quá trình khuếch tán cũng được trình bày chi tiết. Khuếch tán trong hệ mất trật tự Cấu trúc tinh thể là cấu trúc có tính trật tự xa, có nghĩa là tính chất sắp xếp tuần hoàn có mặt ở trong độ dài rất lớn so với hằng số mạng tinh thể. Cấu trúc vô định hình (VĐH) là cấu trúc mất trật tự, nhưng về mặt thực chất, nó vẫn mang tính trật tự nhưng trong phạm vi rất hẹp, gọi là trật tự gần. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các mô hình khuếch tán trong hệ mất trật tự. Dựa trên mỗi tính chất vật lý cần nghiên cứu sẽ có một mô hình mất trật tự tương ứng được thiết lập. Do đó đã có nhiều mô hình mất trật tự được đưa ra. Cụ thể: mô hình lưới có tần suất chuyển tiếp mất trật tự [41] (các mô hình lý tưởng), các mô hình lưới trật tự với tần suất chuyển tiếp đồng đều [70].
Hay mô hình mất trật tự mới như: mô hình thấm dùng để mô tả quá trình thấm qua môi trường xốp hoặc màng mỏng của chất lỏng; mô hình mô tả theo cấu trúc “fractal” [22], hay mô hình Sinai có độ dịch chuyển trung bình tỷ lệ với thời gian theo quy luật dị thường (tỷ lệ với hàm logarit bình phương của thời gian). Tuy nhiên, trong lý thuyết khi khảo sát sự chuyển động của các hạt trong lưới mất trật tự, ngưởi ta thường dùng lưới mất trật tự có sự mất trật tự được gán vào tần suất chuyển dịch giữa các vị trí (hay nói cách khác là lưới này có xác suất chuyển dịch giữa các vị trí là khác nhau, nguyên nhân là do sự mất trật tự của lưới gây nên). Do đó, các mô hình mất trật tự khi xây dựng thường chỉ xét sự mất trật tự năng lượng, mà không xét đến sự mất trật tự về mặt hình học. Đây là một cách tiếp cận nhằm đơn giản hóa quá trình khảo sát.
Khi mô phỏng cần khảo sát hệ mất trật tự về cả mặt hình học và năng lượng, ta sẽ bổ sung một thông số đặc trưng cho sự mất trật tự hình học vào hệ mất trật tự đã có. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết về một số mô hình mất trật tự đơn giản thường gặp trong các nghiên cứu. - Mô hình rào thế ngẫu nhiên (random barrier-RB) Sự mất trật tự trong mô hình rào thế ngẫu nhiên là do năng lượng chuyển tiếp Ei,i+1 [35,6]. Mức độ mất trật tự của mô hình được xác định bởi mức độ mất trật tự của năng lượng rào thế ngẫu nhiên Ei,i+1.1 mô tả mô hình rào thế ngẫu nhiên.
Tần suất dịch chuyển giữa hai vị trí lân cận i và i+1 có giá trị như nhau: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1) do hạt nhảy từ vị trí i sang i+1 và ngược lại có cùng một độ cao rào thế Ei,i+1. Trong mô hình này, năng lượng chuyển tiếp Ei,i+1 được phân bố theo hàm νB(E). Sự kích hoạt nhiệt thường được cho là nguyên nhân của quá trình vật lý dẫn đến chuyển dịch các hạt trong hệ. Dạng đơn giản nhất của quá trình này tuân theo định luật Arrhenius.
Tần suất hạt nhảy từ vị trí i sang vị trí lân cận i+1: Ei ,i1 i ,i 1 0 .2) k BT Với Ei,i+1 ≥0 ( Ei,i+1 là độ cao rào thế). - Mô hình năng lượng vị trí ngẫu nhiên (Mô hình bẫy ngẫu nhiên) Một mô hình mất trật tự khác là mô hình năng lượng vị trí ngẫu nhiên (bẫy ngẫu nhiên) [86, 87]. Trong mô hình bẫy ngẫu nhiên, hạt sẽ không định xứ tại một vị trí (các bẫy) lâu dài mà sẽ dịch chuyển sang vị trí lân cận. Tuy nhiên, tần suất nhảy của hạt sang vị trí lân cận chỉ phụ thuộc vào vị trí ban đầu lưu trú, hoàn toàn không phụ thuộc vào vị trí lân cận hạt nhảy tới.
Tần suất nhảy của hạt giữa hai vị trí lân cận i và i+1 được xác định bởi công thức Ei i ,i 1 0 .exp( ) , với Ei ≤ 0 (1.3) k BT Năng lượng vị trí Ei có giá trị âm, chỉ độ sâu của bẫy được xác định bởi một hàm phân bố νT(E). Mô hình mất trật tự năng lượng vị trí được minh họa như hình 1.2 - Mô hình kết hợp mô hình năng lượng vị trí và rào thế ngẫu nhiên Trong mô hình kết hợp [40] cả năng lượng vị trí Ei và năng lượng chuyển tiếp Ei,i+1 có giá trị độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau và lần lượt có phân bố tương ứng theo hàm νT(E), νB(E). Tần suất giữa hai bước nhảy liên tiếp của hạt cho bởi công thức 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ei ,i1 Ei i ,i 1 0 .4) k BT Đồ thị mô tả sự phân bố năng lượng trong mô hình tổng hợp như hình 1. Lưu ý rằng tất cả các năng lượng này đều có gốc năng lượng E=0.
- Mô hình bị chặn ngẫu nhiên (Randomly blocked sites - RBS) Mô hình bị chặn ngẫu nhiên [35] có đặc điểm như sau: trên lưới có các vị trí bị chặn được gieo ngẫu nhiên với xác suất 1-p, và các hạt không thể nhảy vào các vị trí này bị chặn này. Quá trình nhảy của các hạt đến các vị trí bất kỳ của lưới được cho là thành công nếu vị trí đó là mở (cho phép các hạt nhảy vào) không phải là các vị trí bị chặn ngẫu nhiên trên lưới. Ngược lại nếu vị trí hạt nhảy đến là đóng (vị trí chặn ngẫu nhiên) thì hạt nhảy không thành công và ở lại vị trí cũ (hiệu ứng che chắn). Trong trường hợp này xác suất nhảy của nguyên tử sẽ là (1-p) với p là xác suất các vị trí đã bị chiếm chỗ.
Do vậy một bước nhảy từ i tới i+1 trong mô hình này sẽ có tần suất chuyển tiếp Γi,i+1= Γ nếu vị trí i+1 là vị trí mở và Γji= 0 nếu vị trí i+1 là vị trí chắn (đóng). Mô hình này được minh họa như hình 1. - Mô hình Miller và Abrahams (MA). Đối với mô hình MA [35] (Hình 1.5), tần suất chuyển dịch của các hạt đến vị trí lân cận có cùng một giá trị nếu năng lượng vị trí hạt chuyển đến nhỏ hơn năng lượng vị trí ban đầu của hạt.
Trong khi, sự dịch chuyển đến các vị trí có năng lượng cao hơn sẽ phụ thuộc vào nhiệt kích hoạt. 0 Ei1 E i i ,i 1 Ei Ei1 (1.exp( ) Ei 1 E i k BT Mô hình này mô tả sự chuyển dịch của điện tử hoặc lỗ trống trong bán dẫn vô định hình. Đối với mô hình này, trong tần suất chuyển dịch xuất hiện thừa số 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phụ thuộc khoảng cách. Nguyên nhân là nhằm hạn chế để hạt chuyển dịch trong lân cận gần nhất.1 Mô hình năng lượng rào thế ngẫu nhiên Hình 1.2 Mô hình năng lượng vị trí ngẫu nhiên Hình 1.
Mô hình kết hợp mô hình năng lượng vị trí và rào thế ngẫu nhiên 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mô hình bị chặn ngẫu nhiên Hình 1. Mô hình Miller và Abrahams 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mô phỏng khuếch tán trong lưới mất trật tự.
a, Khuếch tán trong hệ mất trật tự lý thuyết - Trường hợp một hạt. Trong các mô hình mất trật tự lý thuyết, hệ số khuếch tán cho trường hợp một hạt đã được xác định một cách rõ ràng, chi tiết. Cụ thể, mô hình mất trật tự rào thế ngẫu nhiên, trường hợp một chiều, hệ số khuếch tán có giá trị tính theo công thức 1 1 D (1.6) Với Γ là tần suất chuyển dịch. Tuy nhiên, khi số chiều lớn hơn, khuếch tán trong mô hình mất trật tự rào thế ngẫu nhiên có thể lấy giá trị gần đúng.
Phương pháp sử dụng phổ biến trong trường hợp này là gần đúng hiệu dụng trung bình (the effective medium approximation - EAM). Tần suất dịch chuyển hiệu dụng được xác định từ [27] eff z2 0 (1.7) eff 2 Trong đó, z là số phối trí. Thông thường, nếu ảnh hưởng mất trật tự không lớn, phương pháp gần đúng hiệu dụng trung bình cho giá trị hệ số khuếch tán chuẩn xác và phù hợp [23]. Một cách đánh giá khác về hệ số khuếch tán được tính thông qua phương pháp đường tới hạn (CP) đề xuất bởi Ambegaokar, Halperin, và Langer [109].
Trong phương pháp này, đường từ một mặt này tới một mặt khác của lưới lớn được coi như vượt qua năng lượng rào thế thấp nhất có thể. Năng lượng rào thế lớn nhất xác định hệ số khuếch tán tiệm cận. Phương pháp đường tiệm cận này được đánh giá là một phương pháp phù hợp với tính toán cho hệ 3 chiều 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có mức độ mất trật tự cao [104]. Đối với các lưới ô vuông, hai phương pháp gần đúng hiệu dụng trung bình và trường tiệm cận có phân bố không giống nhau về năng lượng kích hoạt từ 0 đến Ec cho cùng một kết quả.