Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Trích Ly Hàm Lượng Anthranoid Trong Rễ Cây Ba Kích

Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích, phân tích chi tiết trong luận văn thạc sĩ, giúp tối ưu quy trình chiết xuất.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

61
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Yêu cầu của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về cây ba kích

2.2. Phân loại, sự phân bố, đặc điểm của ba kích

2.3. Thành phần hóa học và các hoạt chất sinh học trong ba kích

2.4. Tác dụng của ba kích

2.5. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.6. Nguyên tắc trích ly hợp chất từ thực vật

2.7. Dung môi trích ly

2.8. Phương pháp trích ly

3. PHẦN 3: NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Hóa chất, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu

3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.3.2. Phương pháp phân tích

3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Nghiên cứu lựa chọn phương pháp trích ly

4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lựa chọn dung môi đến trích ly

4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung môi chiết

4.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ nguyên liệu/dung môi hữu cơ

4.5. Kết quả ảnh hưởng của thời gian đến hiệu quả trích ly

4.6. Nghiên cứu tối ưu thời gian, nồng độ dung môi, tỉ lệ nguyên liệu/dung môi đến khả năng trích ly hàm lượng anthranoid trong rễ ba kích

4.6.1. Ảnh hưởng của tỉ lệ dung môi/nguyên liệu và nồng độ cồn trong trích ly hàm lượng anthranoid trong rễ ba kích

4.6.2. Ảnh hưởng của thời gian và nồng độ cồn trong trích ly hàm lượng anthranoid trong rễ ba kích

4.6.3. Ảnh hưởng của thời gian và tỉ lệ nguyên liệu/dung môi trong quá trình trích ly hàm lượng anthranoid trong rễ ba kích

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây ba kích

Cây ba kích (Morinda officinalis How.) là một loại dược liệu quý thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Rễ cây ba kích chứa nhiều hoạt chất sinh học, đặc biệt là anthranoid, có tác dụng dược lý quan trọng. Cây ba kích được phân loại thành hai loại chính: ba kích trắng và ba kích tím, trong đó ba kích tím được sử dụng phổ biến hơn do hàm lượng hoạt chất cao hơn. Cây ba kích phân bố chủ yếu ở các vùng núi thấp và trung du miền Bắc Việt Nam, với đặc điểm sinh thái ưa sáng, ẩm và chịu bóng.

1.1. Phân loại và phân bố

Cây ba kích gồm hai loại chính: ba kích trắng và ba kích tím. Ba kích tím được ưa chuộng hơn do hàm lượng hoạt chất cao hơn. Cây phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, và một số tỉnh khác. Ở Trung Quốc, cây ba kích cũng được trồng ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, và Quảng Đông.

1.2. Đặc điểm sinh học

Cây ba kích là cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn. Hoa nhỏ, màu trắng, tập trung thành tán ở đầu cành. Quả hình cầu, khi chín màu đỏ. Rễ cây dài, quăn queo, mặt ngoài màu nâu xám, bên trong có màu hồng hoặc tím. Rễ cây ba kích là bộ phận chứa nhiều hoạt chất sinh học, đặc biệt là anthranoid.

II. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý

Rễ cây ba kích chứa nhiều hợp chất hóa học quan trọng như anthranoid, iridoid, và các hợp chất monoterpen. Các hoạt chất này có tác dụng dược lý đa dạng, bao gồm bổ thận, tráng dương, giảm đau, chống viêm, và tăng cường sức đề kháng. Anthranoid là hoạt chất chính, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, và ích thận.

2.1. Thành phần hóa học

Rễ cây ba kích chứa các hợp chất như anthranoid, iridoid, monoterpen, và sterol. Các hợp chất này có vai trò quan trọng trong việc tạo nên các tác dụng dược lý của cây ba kích. Đặc biệt, anthranoid là hoạt chất chính, có tác dụng sinh lý mạnh, giúp thanh nhiệt, giải độc, và ích thận.

2.2. Tác dụng dược lý

Cây ba kích có nhiều tác dụng dược lý, bao gồm bổ thận, tráng dương, giảm đau, chống viêm, và tăng cường sức đề kháng. Anthranoid trong rễ cây ba kích có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, và ích thận. Ngoài ra, cây ba kích còn có tác dụng tăng sức dẻo dai, giảm huyết áp, và hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến thận.

III. Nghiên cứu trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích

Nghiên cứu trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích là một hướng đi mới trong việc ứng dụng dược liệu tự nhiên. Quá trình trích ly được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau, sử dụng các loại dung môi và điều kiện tối ưu để đạt hiệu suất cao nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ethanol là dung môi phù hợp nhất để trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích.

3.1. Phương pháp trích ly

Phương pháp trích ly được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm các bước như lựa chọn dung môi, xác định nồng độ dung môi, tỉ lệ nguyên liệu/dung môi, và thời gian trích ly. Ethanol được chọn là dung môi phù hợp nhất do khả năng hòa tan cao các hợp chất anthranoid.

3.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ethanol với nồng độ 70% và tỉ lệ nguyên liệu/dung môi 1:10 là điều kiện tối ưu để trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích. Thời gian trích ly tối ưu là 60 phút, đạt hiệu suất cao nhất. Nghiên cứu này mở ra hướng ứng dụng mới trong việc sản xuất các sản phẩm thực phẩm chức năng từ cây ba kích.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly hàm lượng anthranoid trong rễ cây ba kích

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, đầu tư ở nhiều lĩnh vực và ngành công nghệ thực phẩm nói riêng, con người ngày nay không chỉ lo ăn, lo mặc mà còn cần cần đến thực phẩm không chỉ giàu dinh dưỡng mà còn tăng cường sức khỏe, phòng và điều trị bệnh tật, kéo dài tuổi thọ. Do đó mà những sản phẩm thực phẩm chức năng hiện nay có thành phần dinh dưỡng đặc biệt với cơ thể từ những hoạt chất tự nhiên đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người. Trong những năm gần đây, xu hướng ở Việt Nam cũng như trên thế giới, con người ngày càng tiêu dùng các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu tự nhiên. Khí hậu ở Việt Nam thích hợp cho các loại cây dược liệu phát triển đa dạng và phong phú, tạo điều kiện cho việc dùng các các cây dược liệu để sản xuất một số sản phẩm chức năng có tính tiện dụng, có lợi cho sức khỏe con người.

Ba kích và những sản phẩm được làm từ rễ ba kích như rượu ba kích, cao lỏng ba kích, siro ba kích là những sản phẩm có tác dụng dược lý cao, ba kích có nhiều công dụng tốt với sức khỏe như bổ thận, bổ gân cốt, làm tăng nhu động ruột và làm giảm huyết áp, ích tim, mạnh gân cốt, bổ trí não, khử phong thấp, giảm xơ cứng động mạch, tăng cường khả năng sinh lý nam giới [2], [8]. Ba kích hay còn gọi là cây ruột gà, là một loại thuốc quý được xếp vào danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, sách đỏ Việt Nam. Ba kích gồm 2 loại ba kích trắng và ba kích tím, tuy nhiên ba kích tím thường được sử dụng nhiều hơn do hàm lượng hoạt chất cao hơn so với ba kích trắng. Cây Ba kích được coi là cây bản địa của vùng Quảng Ninh.

Trong rễ ba kích chiếm chủ yếu là hợp chất antharglycosid mà theo y học cổ truyền ba kích có tác dụng hạ huyết áp, tăng tính dẻo dai, tăng cường đề kháng cơ n 2 thể, chống viêm, chữa thận hư, tráng dương, phụ nữ khó có thai, tay chân đau nhức, giúp ăn ngon miệng. Ngoài ra ba kích đem ngâm rượu còn là đặc sản của vùng đất Quảng Ninh. Ở Việt Nam cây ba kích được trồng nhiều ở các tỉnh như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Nam [14], [22]. Với tác dụng tốt cho sức khỏe và là cây thuốc tự nhiên nên ba kích được sử dụng rất nhiều, rộng rãi với các bài thuốc (sắc uống) dân gian như: Nhị tiên thang, trị bệnh cao huyết áp: Ba kích, đương quy, tri mẫu, hoàng bá, dâm dương hoắc,….

Trị thận hư, dương ủy, di tinh: Ba kích, thục địa, mỗi thứ 15g, sơn thù du, kim anh tử, mỗi thứ 12g. Trị lưng gối mỏi đau, mặt trắng nhợt nhạt, chân tay lạnh: Ba kích, tục đoạn, bổ cốt chỉ, mỗi thứ 12g, hồ đào nhục 5 quả. Trị hàn sơn biu sưng đau, thận hư di niệu, đái nhiều lần,…Và ba kích còn được sử dụng dưới dạng rượu ngâm. Hiện nay tại Việt Nam việc nghiên cứu tách chiết hợp chất anthranoid trong ba kích chưa có nhiều, tuy nhiên đã có một số nghiên cứu về tách chiết hợp chất anthranoid trong cây lô hội, quả nhàu, đại hành, ích mẫu, chút chít [7], [21].

Sản phẩm từ cây ba kích hiện nay chưa nhiều thường được ngâm rượu, hoặc sắc thuốc,… Các đề tài nghiên cứu ứng dụng ba kích ở Việt Nam còn khá mới. Việc tách chiết hợp chất anthranoid trong rễ cây ba kích áp dụng vào sản xuất các sản phẩm thực phẩm chức năng có ý nghĩa lớn và là hướng đi mới. Xuất phát từ đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly hàm lượng anthranoid trong rễ cây Ba kích ”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tách chiết hợp chất anthranoid toàn phần trong rễ cây ba kích để nâng cao tỉ lệ thu hồi hoạt chất sinh học anthranoid trong rễ cây Ba kích.

Yêu cầu của đề tài - Lựa chọn được phương pháp chiết - Lựa chọn được dung môi chiết - Xác định được nồng độ dung môi chiết. - Xác định được tỉ lệ dung môi: nguyên liệu. - Xác định được thời gian chiết. - Tối ưu hóa quá trình trích ly hàm lượng anthranoid từ rễ ba kích.

n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về cây ba kích 2. Phân loại, sự phân bố, đặc điểm của ba kích Tên khoa học: Morinda officinalis How. Họ cà phê: Rubiaceae Tên Việt Nam: Cây ba kích hay gọi là ruột gà, ba kích thiên, nhàu thuốc, chẩu phóng xì (H’Mong), thau tày cáy (Tày), sáy cáy ( Thái), chày kiang đòi (Dao), liên châu ba kích, chồi hoàng kim (Mường) [20],[21]. Rễ ba kích Sản phẩm quan trọng của cây ba kích là rễ (Radix Morindae), rễ cây ba kích là một loại dược liệu quý có nhiều công dụng như bổ thần kinh, bổ gân cốt, chữa thấp khớp, giảm sơ cứng động mạch, tăng cường khả năng sinh lý nam giới [1],[22].

Phân loại: Ba kích gồm 2 loại là ba kích trắng và ba kích tím. Ba kích tím và ba kích trắng nhìn bề ngoài không khác nhau là mấy, chỉ khác ba kích tím màu vỏ rễ có màu vàng sậm, còn ba kích trắng có màu vàng nhạt. Ba kích tím là loại được dùng phổ biến từ xưa do rất tốt cho sức khỏe, không phải ba kích tím là rễ có màu tím mà khi ngâm với rượu, màu của rượu ba kích chuyển thành màu tím thì gọi là ba kích tím. Ba kích trắng ít dùng, do tác dụng không tốt bằng ba kích tím.

Rễ có màu vàng n 5 nhạt, phần thịt bên trong màu trắng trong, không có sắc tím, khi ngâm rượu thì rượu không chuyển màu tím [14]. Phân bố: Ở Việt Nam, ba kích được trồng ở vùng núi thấp và trung du các tỉnh miền núi phía Bắc. Độ cao phân bố khoảng 100m so với mặt nước biển cây trồng ở Hoàng Bồ, Cẩm Phả (Quảng Ninh), Ba Vì (Hà Nội), Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Kạn Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình, Thanh Hóa và một số ít ở Bắc Ninh, Sơn Động (Bắc Giang), Phú Thọ. Miền năm ba kích có trổng ở Đèo Sương Mù, Hướng Hóa (Quảng Trị), Tây Giang (Quảng Nam), Cầu Hai (Vĩnh Phú).

Càng lên cao cây mọc càng thưa dần và đến gầm 1000m so với mực nước biển hầu như ít gặp [5]. Ở Trung Quốc, ba kích có trồng ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam, Quảng Đông [5]. Diện tích trồng cây ba kích tím tăng nhanh trong những năm gần đây, theo thống kê của sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh năm 2012 diện tích trồng là 10 ha cây ba kích tím đến năm 2014 diện tích trồng tăng lên là 55,6 ha [3],[4]. Đặc điểm thực vật học Cây ba kích là cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn, dài hằng mét.

Thân non màu tím, có lông, phía sau nhẵn, cành non có cạnh. Lá mọc đối hình mác hoặc hình bầu dục, thuôn nhọn, cứng dài 6 – 14 cm, rộng 2,5 – 6 cm, cuống ngắn, lúc non có lông dày hơn ở mặt dưới thường tập trung ở gân và mép lá màu xanh lục, khi già ít lông hơn màu trắng mốc, lá kem mỏng, ôm sát vào thân [21], [22], [23]. Hoa nhỏ màu trắng sau hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, cụm hoa chủ yếu là xim tán kép, ít khi cụm hoa tán đơn. Ở cụm xim tán kép hoa hầu như không có cuống còn ở cụm xim tán đơn có cuống rõ ràng, hoa nhỏ, ống đài dạng chén hay ống gồm những lá đài nhỏ phát triển có 3 – 4 răng nhỏ không đều.

Tràng màu trắng, ống tràng dài 2 – 3 mm, họng có lông, ở đầu có 3 - 4 cánh trắng dạng tam giác nhỏ. Tràng hoa hàn liền ở phía dưới thành ống ngắn, tràng hoa dính liền đỉnh. Nhị 3 – 4 bao phấn nhọn đầu, 2 ô, đính lưng, chỉ nhị cực ngắn, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy 2 thùy. Mùa hoa tháng 5 – 6, mùa quả tháng 7 – 10 [2], [21].

n 6 Quả ở dạng quả đơn, quả có cuống rõ ràng, mỗi quả có 4 hạt, quả hình cầu, rời nhau, khi chín màu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh. Hạt có lông màu hồng, khi khô màu trắng. Rễ cây dài, quăn queo mặt ngoài màu nâu xám hoặc nâu nhạt, có nhiều vân dọc và ngang. Nhiều chỗ nứt ngang sâu tới lõi gỗ.

Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng, mô mềm, có phần thịt dày màu tím xám hoặc màu hồng nhạt. Bên trong là thịt màu hồng hay tím, vị hơi ngọt, vị hơi ngọt. Rễ hình trụ tròn hay hơi dẹt, cong queo, dài 3 cm trở lên, đường kính 0,3 cm trở lên. Giữa là lõi gỗ nhỏ màu vàng nâu, vị hơi ngọt và hơi chát [3], [24], [25].

Đặc điểm sinh lý sinh thái Cây ba kích là cây mọc hoang dại, mọc tự nhiên trong rừng thường xanh, nay trở nên thứ sinh cùng cây bụi và dây leo dưới tán rừng 20 – 60%, cây leo lên thân cây bụi, cây gỗ nhỏ để lấy ánh sáng. Cây ưu sáng, ẩm và chịu bóng nhất là khi còn nhỏ. Khi lớn lên ba kích sống trong điều kiện sáng hoàn toàn [4]. Cây ba kích sinh trưởng và phát triển tốt trên đất có nhiều mùn (3,78 – 5,91%), tơi xốp, thoát nước tốt, hơi chua (pH từ 3,6 – 4,1), cũng mọc tự nhiên trên đất feralit đỏ - vàng, tầng đất thịt tương đối dày, có kết cấu tương đối hạt và kém vón.

Hàm lượng tổng số các chất trong 100g đất lần lượt là: Nitơ 0,24 – 0,34 mg, Lân 0,7 – 1,5 mg và Kali 7mg. Tuyệt đối không trồng ở nơi úng bí, cây không thích hợp trồng ở đất phù sa và các nơi đồng bằng. Cây ra hoa quả hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt hoặc mọc cụm chồi từ các phần còn lại, sau khi chặt phần rễ còn sót lại khi khai thác cũng có thể nảy mầm thành cây mới [3], [5]. Trong tự nhiên Ba kích sinh trưởng và phát triển tốt ở những vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm.

Nhiệt độ không khí trung bình khoảng 21- 23oC, độ ẩm trung bình là 82 -89oC [12]. Ba kích là cây ưa sáng, do đó ánh sáng rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây, bặt biệt khi cây đã lớn. Cây được chiếu sáng sẽ ra hoa nhiều hơn và hạt chắc hơn khi bị che bóng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích - Luận văn thạc sĩ là một công trình khoa học chuyên sâu, tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình trích ly anthranoid từ rễ cây ba kích, một dược liệu quý trong y học cổ truyền. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng như nhiệt độ, thời gian, và dung môi mà còn đưa ra các giải pháp hiệu quả để nâng cao hiệu suất trích ly. Điều này mang lại lợi ích lớn cho các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp dược phẩm, và những người quan tâm đến việc ứng dụng dược liệu tự nhiên trong điều trị bệnh.

Nếu bạn muốn khám phá thêm về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực dược liệu thực vật, hãy xem Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nhân giống cây đinh lăng lá nhỏ polycias fruticosa l harm bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về kỹ thuật nuôi cấy mô, một phương pháp tiên tiến trong việc bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý.