Mở đầu - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu - Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận - Kết luận và Kiến nghị - Tài liệu tham khảo e 4 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÌNH THÁI CƠ BẢN 1. Khái quát về các chỉ số hình thái Hình thái con ngƣời là một chỉ tiêu phức tạp, phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thể. Một trong những biểu hiện cơ bản về hình thái là những số đo kích thƣớc cơ thể trong đó chiều cao, khối lƣợng và vòng ngực là ba chỉ số cơ bản phản ánh hình thái con ngƣời.
Từ ba chỉ số này có thể xác định thêm một số chỉ số khác nhƣ Pignet, BMI.Đây là những chỉ số có ý nghĩa trong việc đánh giá sự phát triển của cơ thể. Chiều cao là một trong những chỉ số điển hình đƣợc sử dụng trong việc điều tra nhân trắc học và đánh giá tầm vóc. Chiều cao phản ánh sự phát triển của chiều dài xƣơng, tầm vóc con ngƣời. Mỗi lãnh thổ, chủng tộc, giới tính có những đặc trƣng riêng về chiều cao.
Mặt khác sự phát triển của chiều cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: yếu tố di truyền, yếu tố dinh dƣỡng, yếu tố về sự tập luyện, điều kiện tự nhiên, điều kiện sống. Các yếu tố này tác động lên sự phát triển chiều cao một cách dần dần, liên tục và không đồng nhất. Tuy nhiên trong điều kiện nhƣ nhau thì sự phát triển chiều cao đƣợc quyết định bởi yếu tố di truyền. Nhƣ vậy có thể nói chiều cao phản ánh một cách tổng quát quá trình tăng trƣởng của con ngƣời [3], [25].
Cân nặng cũng là một chỉ số để đánh giá thể lực, là đại lƣợng phản ánh đƣợc tình trạng dinh dƣỡng, biểu hiện mức độ và tỷ lệ giữa quá trình hấp thu và tiêu hao vật chất, năng lƣợng. Do đó, cân nặng ít phụ thuộc bởi yếu tố di truyền mà chủ yếu bị ảnh hƣởng bởi yếu tố dinh dƣỡng [3], [25]. Cân nặng cũng thay đổi theo lứa tuổi và không đồng đều trong quá trình phát triển. Từ khi sinh ra cân nặng cơ thể tăng nhanh và đạt đến tối đa ở tuổi trƣởng thành sau đó có thể tiếp tục tăng hoặc giảm tùy thuộc vào thể trạng từng ngƣời [17],[18].
e 5 Vòng ngực cũng là một chỉ số để đánh giá thể lực. Sự phát triển của vòng ngực thƣờng đồng thời với sự phát triển của chiều cao, cân nặng, có liên quan đến sức khỏe cũng nhƣ hoạt động hô hấp của con ngƣời và xác định hệ số tƣơng quan giữa các chỉ số trên [23], [30]. Khác với cân nặng, vòng ngực chỉ tăng nhanh khi cơ thể bƣớc vào giai đoạn dậy thì và phát triển đến giai đoạn nhất định thì dừng lại [23]. BMI (Body Mass Index - chỉ số khối cơ thể) thể hiện mối tƣơng quan giữa chiều cao và cân nặng của cơ thể, dùng để đánh giá mức độ thừa cân hay thiếu cân ở ngƣời.
Sở dĩ có điều này là do BMI có liên quan chặt chẽ với khối lƣợng mỡ trong cơ thể. Ngoài ra chỉ số này cũng dùng để đánh giá tình trạng dinh dƣỡng [46]. Những nghiên cứu về hình thái trên thế giới và Việt Nam 1. Những nghiên cứu trên thế giới Từ thế kỉ XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực.
Nhƣng mãi đến những năm đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu hình thái - sinh lý mới trở thành một ngành khoa học thực sự và đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phƣơng pháp và dụng cụ đo đạc kích thƣớc của cơ thể. Các phƣơng pháp và dụng cụ đo đạc của Rudolf Martin cho đến nay vẫn đƣợc áp dụng [17]. Việc đánh giá thể lực chỉ dựa trên một chỉ số là cân nặng, chiều cao hay vòng ngực đều không cho kết quả nhƣ mong muốn.
Vì vậy, ngƣời ta đã hợp nhất nhiều chỉ số vào một chỉ số chung để đánh giá thể lực. Ban đầu là hợp nhất hai chỉ số nhƣ Broca, Quetelet,.sau đó là những chỉ số đƣợc hợp nhất từ 3 chỉ số trở lên nhƣ chỉ số Pignet, Vervack, Pimo,.Việc hợp nhất nhiều chỉ số vào một chỉ e 6 số chung đã làm cho việc đánh giá thể lực đƣợc chính xác hơn [8]. Một hƣớng khác đi sâu nghiên cứu sự tăng trƣởng về mặt hình thái đó là nghiên cứu sự tăng trƣởng của cơ thể và các đại lƣợng có thể đo lƣờng đƣợc bằng kỹ thuật nhân trắc. Từ giữa thế kỉ XVIII, việc nghiên cứu về sự tăng trƣởng và phát triển ở trẻ em bắt đầu đƣợc chú ý.
Công trình nghiên cứu đầu tiên là của Jumper C. Ngay từ đầu thế kỷ XX việc nghiên cứu này đã đƣợc tiến hành ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Mỹ… Mối quan hệ giữa hình thái với môi trƣờng sống cũng đã đƣợc nghiên cứu tƣơng đối sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold, Volanski. Vấn đề nhân trắc học còn đƣợc thể hiện qua các công trình nghiên cứu của Baskirov P., Evan Dervael, Bunak, Uruxon A. Năm 1977, hiệp hội các nhà tăng trƣởng học đã đƣợc thành lập, đánh dấu một bƣớc phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về hình thái, thể lực đƣợc tiến hành muộn hơn so với trên thế giới. Hình thái con ngƣời Việt Nam lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu vào năm 1875 do Mondiere tiến hành trên trẻ em. Sau đó xuất hiện các tác phẩm: “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của ngƣời Đông Dƣơng” của Huard P. (1938) và “Hình thái học ngƣời và giải phẫu thẩm mỹ học” của Huard P.
và Đỗ Xuân Hợp (1943). Mặc dù số lƣợng chƣa nhiều nhƣng các tác phẩm này đã nêu đƣợc các đặc điểm nhân trắc của ngƣời Việt Nam đƣơng thời [15]. Từ năm 1954 trở về sau, các công trình điều tra về con ngƣời ở Việt Nam đƣợc thực hiện nhiều và tƣơng đối toàn diện về mọi mặt, trong đó phải kể đến các tác giả điển hình nhƣ Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị e 7 Lệ, Chu Văn Tƣờng, Trần Tích Cảnh. Các công trình này tập trung nghiên cứu các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của ngƣời Việt Nam [45].
Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của ngƣời Việt Nam” do GS. Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên đƣợc xuất bản, đây là một công trình khá hoàn chỉnh các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của ngƣời Việt Nam ở mọi lứa tuổi. Mặc dù đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của ngƣời miền Bắc (do lịch sử), song nó thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên ngƣời Việt Nam [48]. Năm 1996, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs nghiên cứu về sự tăng chiều cao, vòng ngực của trên 8000 ngƣời Việt Nam từ 1-55 tuổi ở cả 3 miền đã nhận xét rằng chiều cao trung bình của nam trƣởng thành là 163cm và nữ trƣởng thành là 158cm.
Vòng ngực trung bình của nam trƣởng thành là 78-80cm và của nữ trƣởng thành là 77-79cm [11]. Năm 1991, Đào Huy Khuê đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thƣớc về sự tăng trƣởng và phát triển của cơ thể ở 1478 học sinh từ 6-17 tuổi ở thị xã Hà Đông cho rằng hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi nhƣng nhịp độ không đều, tốc độ phát triển tối đa các thông số của nam thƣờng ở lứa tuổi 14-16, nữ: 11-15. Từ 6-9 tuổi kích thƣớc của nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt, từ 10-15 tuổi kích thƣớc nữ thƣờng vƣợt trội hơn nam và từ 16-17 tuổi kích thƣớc nam lại vƣợt trội hơn nữ [23]. Năm 1991-1995, khi nghiên cứu trên 13747 học sinh ở các địa phƣơng: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình - nhóm tác giả Trần Văn Dần và các cs đã cho rằng so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam” thì sự tăng chiều cao của trẻ em từ 6-16 tuổi tốt hơn đặc biệt là với trẻ em ở thành phố và thị xã [10].
Năm 1995, Trần Đình Long và cs qua nghiên cứu đặc điểm cơ thể của học sinh phổ thông tại một số trƣờng ở Thái Bình cho rằng từ 15-16 tuổi sự phát e 8 triển cơ thể ở cả 2 giới đều chậm lại rõ rệt và chững lại dần [35]. Năm 1996, Nguyễn Hữu Chỉnh và cs khi nghiên cứu ở Hải Phòng nhận thấy từ 10-11 tuổi nữ phát triển nhanh hơn nam nhƣng đến 14-15 tuổi thì kích thƣớc của nam bắt kịp và vƣợt trội hơn nữ [9]. Năm 2001, Đào Mai Luyến khi nghiên cứu trên ngƣời Êđê và ngƣời Kinh định cƣ tại ĐăkLăk đã cho rằng thể lực của ngƣời Êđê tốt hơn ngƣời Kinh định cƣ. Tác giả cho rằng đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trƣờng sống có ảnh hƣởng nhất định đến sự tăng trƣởng [37].
Năm 2002, Trần Thị Loan khi nghiên cứu trên đối tƣợng học sinh từ 6- 17 tuổi ở quận Cấu Giấy - Hà Nội đã nhận định: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh thuộc địa bàn nghiên cứu tăng dần theo tuổi với tốc độ tăng không đều. So sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trƣớc đây, thì các chỉ số hình thái của học sinh quận Cầu Giấy lớn hơn, chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hƣởng đến các chỉ số hình thái của học sinh [30]. Năm 2014, Phan Thị Bích Tuyền khi nghiên cứu các chỉ số hình thái và năng lực trí tuệ của học sinh THPT huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên đã nhận định: Chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo tuổi. Chiều cao, cân nặng của học sinh nam lớn hơn học sinh nữ cùng lứa tuổi.
Vòng ngực trung bình của học sinh nam nhỏ hơn của học sinh nữ cùng lứa tuổi [51]. Năm 2017, Nguyễn Thị Hồng khi nghiên cứu các chỉ số hình thái, tình trạng thị lực và năng lực trí tuệ của học sinh trƣờng THPT Trần Quang Diệu và Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã nhận định rằng: Chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo tuổi, trong cùng một lứa tuổi thì chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh ở thị trấn luôn cao hơn học sinh ở xã [19].